Vậy là từ xa xôi nghìn dặm, con trai tôi đã trở về nhà một cách bình an. Cháu già đi trông thấy sau nhiều năm lưu lạc tha phương, không một xu dính túi. Thật kỳ diệu khi con tôi có thể trở về bình an sau 14 năm bặt vô âm tín. Gia đình tôi vô cùng hạnh phúc và biết ơn Sư
Câu chuyện ấm lòng những người làm phúc lợi bằng tấm lòng phục vụ và tình yêu thương. Sáng ngày 10/12/2020, Phúc lợi Agape đồng hành cùng các Đoàn thể quận Bình Tân chúc mừng hạnh phúc cho 8 cặp đôi công nhân có hoàn cảnh khó khăn. Niềm hoan hỉ của các cô dâu, chú rể
11. Nhân chứng Phúc Âm. 12. Liên lỉ quấy rầy – JM. Lam Thy ĐVD. 13. Truyền lửa yêu thương – Mt 28,16-20. 14. Suy niệm của Lm Ga Nguyễn Văn Ty. 15. Đừng trở thành chi thể bất động trong thân thể Chúa. 16. Đừng trở thành bàn tay bại xụi của Chúa. 17. Truyền giáo bằng cách sống. 18.
Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến kia!”. Cái tiếng “ba đời ăn trộm” làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: “Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức họa may mới xóa được mấy tiếng đó”. Câu chuyện Chiếc cầu Phúc Đức 2. Tinh thần phục thiện và chiếc cầu Phúc Đức
Chào quý vị và các bạn khán giả xin hãy ủng hộ Việt Lê bằng cách bấm nút ĐĂNG KÝ KÊNH: Việt Lê - Cuộc Sống Đẹp đồng thời cũng để theo dõi những
1. TIN MỪNG: Ga 20,19-23. (19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !”. (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các
Những câu chuyện hay về cuốc sống sẽ tạo động lực cho bạn hằng ngày. Bạn càng cố gắng tìm kiếm hạnh phúc, giàu có, bạn càng chẳng bao giờ có được những điều đó. Vấn đề lớn nhất của con người là họ cố quá nhiều, gượng ép những thứ mình chưa thể hoặc không thể có. Có những điều bất biến
HPzCg. LỜI GIỚI THIỆU VỀ MÁC Hội thánh trước kia ít quan tâm đến Phúc Âm nầy. Đây là Phúc Âm ngắn và đơn giản nhất so với Ma-thi-ơ và Lu-ca. Việc thiếu quan tâm nầy là vì người ta cho rằng Phúc Âm Mác là bản rút ngắn lại của sách Ma-thi-ơ. Các văn sĩ thời các Giáo phụ ít khi trích dẫn sách Mác, vì Ma-thi-ơ và Lu-ca chứa đựng phần lớn các tư liệu được tìm thấy trong Phúc Âm nầy và họ thích chọn lời trích dẫn của mình ở các Phúc Âm bao quát hơn. Giai đoạn trước thế kỷ 19 tương đối ít có sách chú giải Phúc Âm nầy. Tuy nhiên, quan điểm của các học giả phê bình hiện đại đã đem sách Mác này đến chỗ được quan tâm nghiên cứu. Ngày nay nó đã trở nên mục tiêu nghiên cứu sâu rộng và lâu dài. Người ta không còn cho đây là bản tóm tắt của các sách ký thuật đầy đủ hơn nhưng chấp nhận đây là một công trình độc lập, được viết ra với một mục tiêu xác định và rất thích hợp cho việc nghiên cứu sơ khởi các câu chuyện Phúc Âm. NGUỒN GỐC TÁC GIẢ CỦA PHÚC ÂM THỨ HAI Cũng như các Phúc Âm kia, Phúc Âm thứ hai này không ghi lại ai là tác giả. Nhưng theo truyền thuyết không thay đổi của hội thánh đầu tiên cho là của Mác với Sứ đồ Phi-e-rơ là người phụ giúp. Sự chính xác của quan điểm truyền thuyết nầy liên quan đến địa vị tác giả ngày hôm nay ít khi đặt nghi vấn. 1. BẰNG CHỨNG BÊN NGOÀI Nhân chứng trực tiếp sớm nhất và nguồn gốc của nó là Papias Ông là giám mục thành Hierapolis, có từ nửa đầu thế kỷ thứ hai. Trong tác phẩm nổi tiếng của Eusebius là Ecclesiastical History, ông đã trích lời chứng của Papias như sau Và trưởng lão ấy là trưởng lão Giăng thường nói điều nầy Mác đã trở nên người thông dịch cho Phi-e-rơ, đã viết lại chính xác những điều mà ông nhớ được dù không theo thứ thự về việc mà Chúa Jesus đã nói và hành động. Vì ông không nghe Chúa nói cũng không theo Ngài. Nhưng sau đó ông đã theo Phi-e-rơ như tôi đã nói, đã thường giảng dạy theo nhu cầu tức là của các thính giả, nhưng không phải là lời ký thuật nối tiếp nhau về các lời tiên tri của Chúa. Vì thế Mác không lầm lẫn trong bản ký thuật này khi nhớ lại chúng, vì ông lưu tâm hết lòng là không bỏ sót bất cứ điều gì ông nghe cũng không xuyên tạc bất cứ điều gì! Nhiều lời khẳng định quan trọng liên quan đến Phúc Âm thứ hai và tác giả của nó trong lời chứng cổ xưa này, đến từ một tỉnh ở Á Châu thuộc về Đế quốc La Mã. 1. Mác không phải là một môn đồ trực tiếp của Chúa Jesus. 2. Mác là một người bạn của Phi-e-rơ và rất chú tâm vào lời giảng của Phi-e-rơ. 3. Mác tường trình lại một cách chính xác những điều mà ông đã nghe từ Phi-e-rơ, nhưng lại không theo thứ tự. 4. Mác đã phục vụ như “một người thông ngôn” lại các lời giảng của Phi-e-rơ. Ý nghĩa của chữ “thông ngôn” thông giải hermèneutes không rõ ràng. Nó có nghĩa là “người dịch viết” và một vài học giả cũng ủng hộ ý nghĩa nầy. Như vậy Sloan suy nghĩ rằng “Phi-e-rơ không thể nói tiếng Hy lạp nhiều và “Mác cùng đi với Phi-e-rơ và dịch ra những bài diễn thuyết và bài giảng của ông ra tiếng Hy Lạp”. Nhưng quan điểm cho rằng Phi-e-rơ xuất xứ từ miền Ga-li-lê nói hai ngôn ngữ và ông không thể nói trôi chảy, dù không trau chuốt lắm là điều không thể có. Zahn nhận xét Ý tưởng cho rằng Mác đảm nhận việc thông ngôn, dịch các bài giảng bằng ngôn ngữ Aram của Phi-e-rơ ra Hi văn hoặc càng không thể dịch các bài giảng bằng Hi văn ra tiếng La Tinh không thể do một người không có sự am hiểu nào về tình trạng ngôn gnữ trong thời các Sứ đồ đề ra được. Baxter cũng đồng ý như vậy nhưng lại có quan điểm hoàn toàn khác Ý kiến của riêng tôi Mác là người dịch và biên soạn bản ký thuật mà Phi-e-rơ đã viết bằng ngôn ngữ Aram, ngay lúc đó hay sau một thời gian qua nhiều lần và hình thành ra một quyển nhật ký. Để ủng hộ cho quan điểm của mình, ông nêu lên sự kiện Justin Martyr trích Mac 317 từ “ký sự của Phi-e-rơ”. Nhưng quan điểm cho rằng Phi-e-rơ, một ngư phủ trước kia đã trở nên một môn đệ thông công với Chúa Jesus đã giữ một quyển nhật ký như vậy là điều không chắc chắn. Những người khác thì lại nghĩ rằng Mác là một “người thông ngôn” và ông đã bảo tồn và viết lại những gì ông đã nghe Phi-e-rơ nói. Qua đó Lenski cho rằng “Mác đã trở nên một người thông ngôn của Phi-e-rơ cho hội thánh và đã đem lời giảng của Phi-e-rơ ghi lại trong Phúc Âm của mình một cách chi tiết” Có nhiều người đã nghe Phi-e-rơ giảng và biết những gì ông đã rao ra nhưng lại không ghi chép lại thành sách. Trong khi ghi chép lại bài giảng của Phi-e-rơ, Mác đã giải thích thêm. Như vậy khi Phi-e-rơ tích trữ và công bố các lời nói của Chúa Jesus, thì “ngược lại Mác cũng đã trân trọng giữ gìn lời của người thầy đáng kính của mình là Phi-e-rơ” Ý nghĩa của chữ “giải thích” đúng hơn là “thông dịch”. Dường như lời chứng trực tiếp của Giăng “người trưởng lão” được hạn chế trong một câu đầu qua sự trích dẫn của Eusebius. Phần còn lại của lời trích dẫn ghi lại những lời nhận xét riêng của Papias tự cho mình đã truyền đạt truyền thống Johan. Marxen chứng minh lời tuyên bố nầy là “điều không có giá trị theo lịch sử” vì ông nhấn mạnh rằng quan điểm nầy không nhất quán với các tài liệu phát hiện. Nhưng từ chốt truyền thuyết này thì chúng ta không còn ánh sáng nào nữa vì không có một truyền thuyết nào sớm hơn cũng không có quan điểm thay đổi nào sau nầy. Nhưng Papias phải có một vài kết nối nào đó với truyền thuyết Johan; nếu không các câu chuyện của ông không có ý nghĩa gì cả. Điều mà Eusebius đã viết vào năm 326 sau Chúa có phần trích dẫn lời giải thích của Papias về nguồn gốc của sách Mác cho thấy rằng nó đã được hội thánh tiến cử. Hình như Eusebius không có lời giải thích nào khác, ông cũng cảm thấy không cần phải giải thích thêm. Tuy nhiên, Eusebius không phải là một người dễ dàng chấp nhận truyền thuyết vì sự cổ đại của nó. Ông đã xem thường và từ chối quan điểm về thời kỳ ngàn năm của Papias. Ông chấp nhận lời giải thích theo truyền thuyết khi nào nó xác thực. Lời chứng trở về thời kỳ các Sứ đồ. Hiển nhiên là lời chứng của “trưởng lão” khi bảo vệ Phúc Âm Mác được đưa ra để trả lời cho những người gièm pha, nói xấu. Các nghi vấn dấy lên là sự bỏ sót nhiều vấn đề, sự không “thứ tự” khi tường trình các sự việc, cũng như tính đáng tin cậy trong phần nội dung. Điều nầy ám chỉ rằng vào lúc các ý kiến phê phán nầy xướng lên còn có các Phúc Âm khác để được so sánh. Câu giải đáp của trưởng lão Giăng và của Papias, đối với các ý kiến phê phán nầy là đặc điểm của Phúc Âm Mác. Thực ra, đây là sự ghi chép về lời chứng công khai của Phi-e-rơ lão làng. Chính Phi-e-rơ không phải lúc nào cũng trình bày tài liệu của mình theo thứ tự thời gian nhưng đã sắp xếp theo sự đòi hỏi của các thính giả. Điều này giải thích sự bỏ sót và trật tự sắp xếp của nó. Mác đã trung tín ghi lại lời chứng của Phi-e-rơ. Trong khi Papias khẳng định nguồn cung cấp chính của Phúc Âm thứ hai là Sứ đồ Phi-e-rơ, truyền thuyết ấy cho rằng tác giả thực thụ của Phúc Âm ấy là một người thuộc giai cấp loại hai. Việc xác định địa vị tác giả “không hẳn là tìm cách làm giảm đi uy quyền của Phúc Âm nầy”. Lời giải thích duy nhất là phải dựa trên những sự kiện đã biết. Những nhân chứng khác cũng ủng hộ lời của Papias trong quyển Dialogue with Trypho của Justin Martyr cũng cho biết rằng “Ký sự của Phi-e-rơ” Kể lại rằng Chúa Jesus đã đặt cho các con của Xê-bê-đê tước hiệu là “Bô-a-nẹt”. Vì chỉ có Mác đề cập đến thông tin này 317. Lời trích dẫn phải xuất phát từ Phúc Âm thứ hai, phần mở đầu chắp vá bằng tiếng La Tinh giới thiệu Phúc Âm Mác được biết là Anti Marcionite Prologue viết vào khoảng năm 160-180 cho biết “Mác…là người thông dịch cho Phi-e-rơ. Sau cái chết của Phi-e-rơ, ông đã viết lại cùng Phúc Âm nầy tại Ý”. Lời mô tả nầy đồng nhất với lời chứng của Papias cũng có lời khẳng định thêm là Phúc Âm Mác được soạn ở Ý sau khi Phi-e-rơ qua đời. Irenaeus 140-203, Giám mục thành Lyons ở xứ Gane. Ông đã viết quyển Against Herestes khoảng năm 185 sau Chúa, có một chương nêu tên các tác giả của bốn sách Phúc Âm như sau “Đến bây giờ sau sự qua đời Hi văn, “Exodus” của những người nầy có ý nói đến Phi-e-rơ và Phao-lô. Mác là môn đệ và người thông dịch cho Phi-e-rơ cũng viết lại điều Phi-e-rơ đã giảng luận cho chúng ta” Văn mạch nầy nói đến công tác của Phi-e-rơ và Phao-lô ở La Mã. Lời chứng nầy xác nhận rằng Mác viết sách nầy ở La Mã sau khi Phi-e-rơ và Phao-lô “exodus”. Bối cảnh nầy ủng hộ quan điểm cho rằng qua chữ “Exodus”, Irenaeus cho là “sự ra đi” vào sự chết, nhưng các học giả như Manson là người ủng hộ việc viết sách Phúc Âm này xảy ra trước khi Phi-e-rơ qua đời. Ông cho rằng chữ “Exodus” ám chỉ đến việc ra đi khỏi La Mã. Cả hai ý nghĩa này đều có lý và cần có các bằng chứng khác để kết luận. Clement ở Alexandria 195 sau Chúa đưa ra một vài điểm khác biệt trong hai câu được Eusebius giữ lại. Trong quyển Hypotyposes Clement đã trưng dẫn những lời nầy Khi Phi-e-rơ rao lời cách công khai tại La Mã và nhờ Thánh Linh mà tuyên bố Phúc Âm, có rất nhiều người hiện diện đã khẩn khoản Mác là người đã theo ông một thời gian dài và nhớ được điều đã nói ghi lại những lời nầy. Sau khi hoàn tất ông đã giao lại cho những người đã yêu cầu trước đó. Khi Phi-e-rơ nghe được vấn đề này, ông không ngăn cấm cũng không khuyến khích. Trong một chỗ khác Clement đã nói rằng qua sự mặc khải của Thánh Linh, Phi-e-rơ biết được điều Mác đã thực hiện, “Ông rất vui mừng và đã phê chuẩn tác phẩm ấy để sử dụng rộng rãi trong hội thánh”. Rất có thể Mác hiểu được công việc mà những người khác giục giã, nhưng việc ông hoàn tất nhiệm vụ ấy trong lúc Phi-e-rơ còn sống thì không chắc chắn lắm. Quan điểm nầy đi ngược lại lời chứng của Irenaeus và quyển Anti Marcionite Prologue cũng như lời chứng trước kia của Papias. Nếu ông nói là “khi ông nhớ lại những lần ấy” ám chỉ đến Mác thay vì Phi-e-rơ thì đúng hơn. Eusebius cũng trích lại lời của Origen 230 sau Chúa là Mác viết Phúc Âm thứ hai “khi Phi-e-rơ hướng dẫn ông” Điều nầy khiến cho Phi-e-rơ là một người tham gia tích cực vào việc tạo dựng Phúc Âm này. Lời khẳng định nầy dường như tô điểm cho truyền thuyết trước kia có xu hướng nhấn mạnh đến sự phê chuẩn của các Sứ đồ Phúc Âm này. Như vậy bằng chứng bên ngoài liên quan đến địa vị tác giả của Phúc Âm thứ hai được viết bởi Mác “người thông ngôn” của Phi-e-rơ phải trở về với thế kỷ thứ hai. Nó xuất phát từ ba trung tâm Cơ Đốc giáo đầu tiên là Á Châu, La Mã với Gaul và Alexandria. Truyền thống được củng cố qua việc không cần phải tìm hiểu lý do tại sao Phúc Âm này được giao cho một nhân vật nhỏ bé như Mác nếu ông không viết lại. Tựa đề đầu tiên cho Phúc Âm này là Kata Markon tức là “theo Mác”, cũng vậy sự ủng hộ cho truyền thống không thay đổi này xem lại trang …. Có lẽ đây là bằng chứng cho biết tác giả của Phúc Âm thứ hai. Phúc Âm thứ hai không chứa đựng lời chứng rõ ràng nào liên quan đến việc nhận diện ra tác giả của nó. Tuy nhiên, người ta vẫn chấp nhận rằng nội dung của nó không có gì trái ngược với bằng chứng bên ngoài. Một vài đặc trưng rất phù hợp với sự liên kết truyền thống của nó với Phi-e-rơ. Sự kết nối của Phi-e-rơ với việc viết Phúc Âm này không cần có sự giải thích , nhưng qua một vài đặc trưng trong sách, càng có nhiều ích lợi nếu nhìn nhận sự liên kết này. Ví dụ chúng ta chỉ thấy trong Phúc Âm Mác hai chữ thêm vào là “và Phi-e-rơ” Mac 167 liên kết này đã giải thích một cách tự nhiên “sự sinh động của nhân chứng” trong nhiều đoạn văn của Mác. Đúng là Mác đã xử dụng chữ “Họ” khi giới thiệu câu chuyện liên quan đến Chúa Jesus thay vì dùng chữ “chúng tôi” của Phi-e-rơ khi kể lại một biến cố như là kinh nghiệm của người từng là môn đệ của Chúa Jesus. Gộp lại các thành ngữ bằng ngôn ngữ Aram của Chúa Jesus 541 711, 34 1436, không được tìm thấy trong Phúc Âm khác, có thể vì Mác nhớ lại “giọng nói sinh động của vị Sứ đồ khi thuật lại những lời nói nghiêm nghị của thầy”. cũng cần lưu ý là Phúc Âm này bỏ sót các biến cố tôn cao Phi-e-rơ như bước đi trên mặt biển Mat 1428-31, lời hứa về các chìa khóa 1617-1727, trả thuế đền thờ 1724-27. Nhưng nghiên cứu kỹ các biến cố mất tiếng tốt của ông 833 95-6 14-29, 31, 66-72. Sự nối kết theo truyền thống của Phi-e-rơ với Phúc Âm này được hổ trợ nhờ sự nhất quán với đại cương của câu chuyện Phúc Âm như đã được Phi-e-rơ nêu lên trong Cong vu 1034-43. Tuy nhiên, không cần phải phỏng đoán rằng khi bắt đầu viết Phúc Âm này ông phải hạn chế mình vào công tác sao chép lại các bài giảng của Phi-e-rơ. Khi còn trẻ Mác đã từng nghe các Sứ đồ giảng dạy ở Giê-ru-sa-lem. Ông cũng quen thuộc các lời chia xẻ của Phao-lô và Ba-na-ba 135-12, 1539 Col 410-11. Thật ra bài giảng của Phi-e-rơ là nguồn chính mà ông đã rút ra. Ông đã có nhiều thông tin về Chúa Jesus trước khi trở nên người giúp đỡ Phi-e-rơ. Chúng ta không ngần ngại chấp nhận địa vị tác giả của Mác. Quan điểm này biện minh cho bằng chứng vững chắc bên ngoài liên quan đến nguồn gốc tác giả và nhất quán với các đặc trưng bên trong của Phúc Âm. TÁC GIẢ CỦA PHÚC ÂM THỨ HAI. Sự nhận diện ra Mác của Papias với Giăng Mác trong Tân ước thường được thừa nhận. Taylor nhận xét “Ngày hôm nay quan niệm này phần nhiều không được đồng lòng”. Nhưng đã có nhiều sự phản đối về việc nhận diện này. Người ta cho rằng danh hiệu “Marcus” vì quá quen thuộc nên cho phép sự nhận diện này. Người ta sẵn sàng chấp nhận chính danh hiệu không kiên lập sự hợp lý của sự nhận diện này. Sự nhận diện này càng bị nghi vấn vì nó không được nêu lên một cách rõ ràng cho đến thời Jerome. Câu trả lời là các văn sĩ trước kia cho sự nhận diện này là đúng và cảm thấy không cần phải nhấn mạnh đến. Người ta cũng khẳng định rằng người viết không thể đến từ Giê-ru-sa-lem, vì hình như ông không quen thuộc với địa lý của vùng Palestine. Lời tuyên bố này chưa được thiết lập và ít được chấp nhận. Phúc Âm không chứa đựng điều gì minh chứng tác giả là một người định cư ở Giê-ru-sa-lem lúc còn thơ ấu. Không có một bằng chứng nào về một người tên Mác nào khác ở hội thánh La Mã và Tân ước. Cũng không có bằng chứng tại sao ở hội thánh La Mã phải sẵn sàng thừa nhận một công trình như thế của một Cơ Đốc Nhân mà mình hoàn toàn không biết tên là Mác vào lúc mà Mác cũng nổi tiếng là anh em chú bác với Ba-na-ba 410, có mối quan hệ gần gũi với Phi-e-rơ để viết ra Phúc Âm này. Hình ảnh trong Tân ước về Mác rất phù hợp với truyền thuyết của Papias. Sự khẳng định của Papias cho rằng Mác không phải là một môn đệ của Chúa Jesus phù hợp với sự kiện là danh hiệu Mác không bao giờ được đề cập đến trong các Phúc Âm, mặc dù qua sách Công vụ, Giăng Mác là một người định cư tại Giê-ru-sa-lem và cá nhân ông đã không liên kết với chức vụ công khai của Chúa Jesus có thể vì cớ tuổi tác hoặc ông không dâng mình cho Đấng Christ. Mọi người đều cho rằng “người trai trẻ” trong vườn Ghết-sê-ma-nê Mac 1451-52 chính là Mác. Đây là lời giải thích hợp lý nhất khi gom lại biến cố ít giá trị này là điều không ăn nhập gì với câu chuyện. Có thể Mác đã không học tập biến cố này từ Phi-e-rơ hoặc các Sứ đồ khác. Đây là sự kiện hiển nhiên nối kết với câu chép trước đó là “họ đều bỏ Ngài và chạy trốn” 1450. Rõ ràng người viết biến cố này vì ông đã kinh nghiệm điều đó. Thật dễ hiểu khi người viết lồng một ít lời tự thuật vào trong Phúc Âm của mình, để nói lên sự liên kết vắn tắt của mình với các biến cố khuấy động trong đêm khuya ấy. Giả thuyết này đúng từng chi tiết. Bickersteth nhận xét “Hành động tương xứng với những gì chúng ta biết về tư cách của Mác là nhiệt tâm, nồng cháy nhưng lại e thẹn và nhất thời”. Biến cố nhỏ bé này dường như đưa ra một hình ảnh chính xác của nếp sống và tư cách lúc còn trẻ của Mác. Sự sốt sắng nhất thời cũng có ích nhưng lại chạy trốn bất chợt và thối lui hoàn toàn khi sự nguy hiểm xuất hiện. Sự nhận diện này được xem như “một sự phỏng đoán hoàn toàn không thể xảy ra”. Nhưng sự chối từ này không thể chỉ căn cứ vào sự nhận xét của Papias là Mác “không nghe cũng không theo” Chúa Jesus, đơn giản có nghĩa là chính Mác không phải là một trong những môn đệ được Chúa biết đến. Sự tiếp xúc ngắn ngủi này với các biến cố kinh khủng của những giờ cuối cùng trong cuộc đời Chúa Jesus tự nhiên tạo ra một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn tuổi trẻ này. Thật ra Morison nghĩ rằng biến cố này đánh dấu “bước ngoặc sống động trong sự nghiệp thuộc linh của ông”. Tác giả của Phúc Âm thứ hai được giới thiệu trong sách Công vụ là “Giăng, họ là Mác” 1212. “Giăng” là tên Hê-bơ-rơ, trong khi “Mark” hay “Marcus” là tiếng La Tinh. Cách xử dụng từ La Tinh rất thông thường giữa vòng người Do Thái nói tiếng Hy Lạp. Việc gọi tên “Giăng Mác” là điều không chính xác. Một sự kết hợp mà Tân ước không bao giờ xử dụng. Trong sách Công vụ có ba lần được gọi bằng tên kép này Cong 1212, 25 1537, hai lần gọi là Giăng 135, 13 và một lần gọi là Mác. Mác trong thư tín hình như là “Giăng Mác” của sách Công vụ, vì đây là lời dẫn chứng trong các thư tín Col 420 Phil Plm 124 IITim 411 IPhiero 513. Ông luôn luôn nối kết với cùng một người Phao-lô, Ba-na-ba, Phi-e-rơ như trong sách Công vụ. Cả hai tên có thể được xử dụng theo hoàn cảnh. Trong vòng những người Do Thái, Giăng là tên thích hợp, nhưng giữa vòng người ngoại bang, ông được gọi bằng tên La Tinh của mình. Tên Hê-bơ-rơ của ông không bao giờ được đề cập trong thư tín cho thấy rằng thế giới ngoại bang là phạm vi hoạt động chính của ông. Mác là con của một góa phụ có một căn nhà rộng rãi ở Giê-ru-sa-lem là nơi nhóm họp của các tín hữu suốt những ngày đầu của hội thánh. Mác được dẫn dắt đến chỗ đặt đức tin mình nơi Chúa Jesus Christ lúc nào và khi nào không ai rõ. Ảnh hưởng của người mẹ đạo đức và sự tiếp xúc của ông với các Cơ Đốc nhân đầu tiên trong tư gia của mình là phương tiện chắc chắn dẫn ông đến sự đầu phục cá nhân mình với Chúa. Sự tiếp xúc của ông với người anh em nổi tiếng là Ba-na-ba Col 410 đã có một sự sâu đậm trên thanh niên này. Sự liên lạc giữa Phi-e-rơ và Mác trong IPhiero 513, cho thấy Phi-e-rơ đã gọi Mác là “con ta”. người ta thường suy diễn Mác đã trở lại tin nhận Chúa qua sự ảnh hưởng của ông. Phi-e-rơ là người khách thường xuyên viếng thăm nhà của Mác qua sự phản ứng của người tớ gái khi nghe tiếng của ông cho biết Cong 1212-17. Dứt khoát Mác đã quen thuộc với sự dạy dỗ của Phi-e-rơ từ những ngày đầu tiên. Khi Ba-na-ba và Phao-lô từ Giê-ru-sa-lem trở về An-ti-ốt, họ đã đem Mác theo 1225. Hình như ông ở đó cho đến hành trình truyền giáo thứ nhất khi Mác cùng đi với Ba-na-ba và Sau Lơ như một người giúp việc 135. Vì một lý do nào đó ông đã lìa bỏ công tác ở Ba-phô và trở về Giê-ru-sa-lem 1313. Phao-lô cảm thấy hành động của Mác không có lý lẽ gì để bào chữa cả và ông đã cương quyết bác bỏ lời đề nghị của Ba-na-ba để cho Mác tiếp tục đi với họ trong hành trình thứ hai. Sự bất đồng lớn lao này đã dẫn đến sự phân rẽ giữa Ba-na-ba và Phao-lô. Ba-na-ba và người anh em bà con trẻ tuổi này đã đi thuyền đến Chíp rơ. trong khi đó Phao-lô và Si-la đi đến Sy-ri và Silici 1536-41 Không có tin tức gì về Mác cho đến khi lần ở tù đầu tiên ở La Mã. Phao-lô kèm theo lời chào thăm Mác trong thư gởi cho người Cô-lô-se Col 410, cũng như trong lá thư vắn tắt gởi cho Phi-lê-môn Philemon 124. Trong thư Phi-lê-môn, Phao-lô đã bao gồm Mác là một giữa vòng nhân sự mình. Mác đã nhận lại được sự tin tưởng đầy đủ của Phao-lô và đã hợp tác tích cực với ông. Ông đã lưu lại với Ba-na-ba bao lâu và đã cộng tác với Phao-lô ở địa điểm nào thì không ai biết cả. Sau khi được tha, Phao-lô đã ra đi khỏi La Mã, hình như Mác vẫn còn ở lại trong thành phố này. Khi Phi-e-rơ đến La Mã, Mác đã kết hợp với ông. Trong IPhi 1Pr 513, Phi-e-rơ gởi lời chào thăm đến các hội thánh ở Ba-by-lôn, hình như đây là tên gọi khó hiểu dành cho thành phố Rô-ma và kèm theo lời chào thăm từ “Marcus con của ta”. Dù Phi-e-rơ có ý nói đến Mác là người con thuộc linh của ông hay không thì điều này cũng cho thấy mối quan hệ thắm thiết và gần gũi giữa họ với nhau. Có lẽ bức thư được viết từ La Mã không lâu trước khi Phi-e-rơ chịu tử đạo suốt thời gian bách hại dưới thời Neron. Theo thứ tự thời gian thì lần đề cập cuối cùng về Mác là IITim 411. Phao-lô yêu cầu Ti-mô-thê đến với mình kèm theo một mệnh lệnh “Hãy đem Mác đến với con vì người thật có ích cho ta về sự hầu việc lắm”. Cái nhìn về Mác cho thấy ông là một tôi tớ cao quý sẵn sàng hiến thân trong việc phục vụ người khác. Ông luôn luôn xuất hiện như một người phụ tá. Ông biết cách làm cho mình trở nên quý giá trước các nhà lãnh đạo hàng đầu của hội thánh và sự chứng minh là một tôi tớ thật giữa vòng các tôi tớ của Đức Chúa Trời. NIÊN HẠN VÀ ĐỊA ĐIỂM CỦA PHÚC ÂM THỨ HAI 1. ĐỊA ĐIỂM Lời chúng không thay đổi của các nhân chứng đầu tiên là Phúc Âm Mác được viết tại La Mã. Sự hiện diện của Mác với Phi-e-rơ ở La Mã được xác định ở IPhiero 513, nếu “Ba-by-lôn” ám chỉ La Mã. Một lời chứng lưu truyền lại của Chrysostom là một ngoại lệ vì ông cho rằng sách này được biên soạn tại Ai Cập. Không ai chấp nhận quan điểm của Chrysostom được 347-407 sau Chúa vì các nhân chứng trước ông đáng tin hơn. Dường như quan điểm của ông dựa trên sự hiểu lầm về một câu nói mơ hồ của Eusebius liên hệ đến sự rao giảng của Mác ở Alexandria, thì Phúc Âm này được viết ở La Mã theo lời yêu cầu của các Cơ Đốc nhân tại thành phố này và đã được giao lại cho họ. Phần nội dung của sách này hậu thuẫn cho quan điểm cho rằng Mác đã viết cho các độc giả ngoaị bang nhưng đặc biệt là các đọc giả ở La Mã. Điều hiển nhiên là Phúc Âm này được viết cho các đọc giả không phải là người Do Thái vì trái ngược với Ma-thi-ơ, ông không “đề cập gì đến luật pháp hoặc sự kết nối của nó với Giao ước mới so sánh Mat Mt 517-19 105 199 ít khi nhắc đến sự ứng nghiệm của các lời tiên tri qua sự trích dẫn của Chúa Jesus Mac Mc 76 912 104 1117 1210, 24 1421, 27 của Mác 12tt 1449 1528. Hoặc sự đối đáp của Chúa Jesus chống lại các văn sĩ 1238-40”. Mác cẩn thận giải thích các phong tục và từ ngữ của người Do Thái so sánh 73-4 1242 1412 và dịch những chữ và câu Aram bất cứ khi nào nó được nêu ra so sánh 317 2541 711, 34 1436 522, 34. Nhận xét là núi Ô-li-ve “đối ngang đền thờ” 133 đối với các độc giả Do Thái là điều hòan toàn không cần thiết. Mác xử dụng một số từ La Tinh hơn là một số từ Hi văn tương đương, dường như vì đọc giả quen thuộc hơn so sánh 627 714 1214, 42 1515, 16, 39. Lời nhận xét này rất đúng với cách mà độc giả La Mã dùng. Nguồn gốc ở La Mã đã được minh chứng một cách cụ thể vì chỉ có Mác mới nhận ra Si-môn người Sy-ren là cha của Alecxanđơ và Ruphu 1521. Sự đụng chạm mà mọi người quan tâm này cho thấy nó rất quen thuộc với độc giả. Rô-ma đoạn Rom 1613 cho thấy Ruphu là một thành viên của hội thánh ở La Mã. Sự nhận diện chung về Ruphu này với người trong sách Mac 1521 phù hợp với nguồn gốc theo truyền thuyết của sách Mác. Nơi sở định của Mác là La Mã cũng được Scroggie hậu thuẫn như sau Chúng ta phải thêm vào tinh thần chung của Phúc Âm này là tác giả đã cân đo viết ra những lời lôi cuốn đặc biệt với tâm trí của người La Mã, như Ma-thi-ơ đã viết cho người Hê-bơ-rơ, Lu-ca viết cho người Hy Lạp. Bất cứ giá nào tại La Mã cũng có một ngoại cảnh chiếm ưu thế để bới lục.” Dường như chẳng có gì trong Phúc Âm này đặc biệt nếu bỏ qua quan điểm cho rằng nó được viết ra ở La Mã. Đây là quan điểm hợp lý mà ngày nay ai cũng chấp nhận. 2. NIÊN HIỆU Lời chứng được lưu truyền lại liên quan đến niên hiệu của sách Mác không có sự thống nhất. Theo lời chứng của Irenaeus thì Phúc Âm này được viết ra sau cái chết của Phi-e-rơ và Phao-lô. Niên hiệu này được bản Anti Marcionite Rologue hậu thuẫn. Lời chứng của Papias trong vấn đề này không rõ ràng, nhưng cũng có phần hậu thuẫn cho Irenaeus, vì Irenaeus đã rút tỉa lời chứng của mình từ Papias. Nhưng ngược lại Clement ở Alecxanđria và Origen đã cho rằng sự biên soạn Phúc Âm này trong khoảng thời gian Phi-e-rơ còn sống. Quan điểm này có nhiều khả năng xác định ngày tháng hoàn tất Phúc Âm này. Robertson cảm thấy là “qua các truyền thuyết mâu thuẫn này cho chúng ta tự do định ra niên hạn của Phúc Âm Mác nhưng không dựa trên quan điểm của Irenaeus và Clement ở Alecxandria”. Vì thế niên hạn của Phúc Âm Mác đã đề xuất có một hạn định rất lớn từ năm 44 đến 130 sau Chúa. 30 Bruce nhận xét rằng “Sự dị biệt ý kiến không cùng này có nghĩa là toàn thể vấn đề phụ thuộc vào lãnh vực phỏng định này”. Các học giả cho rằng Phúc Âm này ra đời lúc Phi-e-rơ còn sống và viết vào “những năm năm mươi hay cuối những năm bốn muơi” Quan điểm này cho rằng sự trích dẫn của Irenaeus đối với việc “Exodus” của Phi-e-rơ không có nghĩa là Phi-e-rơ qua đời nhưng có nghĩa là đi khỏi nơi Mác sống. Điều này sẽ đem lời chứng của Irenaeus phù hợp với Clement. Nhưng sự việc này là chối bỏ lời tuyên bố của bản Anti Marcionite Prologue. Định niên hạn sớm như thế là điều đặc biệt lôi cuốn những ai xác định quyền ưu tiên của Phúc Âm Mác trong bản kết hợp ba Phúc Âm. Qua đó có khả năng Phúc Âm Lu-ca được viết ra sớm hơn nữa. Nhưng nếu vậy chúng ta thấy rằng không thể có được một bản gốc ở La Mã của Phúc Âm Mác được, vì Phi-e-rơ hình như chưa đến La Mã cho đến khoảng năm 63 sau Chúa. Bất cứ ngày tháng năm nào trước năm 63 sau Chúa như vậy là sự nhầm lẫn và phá hủy truyền thuyết không thay đổi được xuất xứ của Phúc Âm Mác tại La Mã. Nếu chấp nhận quan điểm của Irenaeus là Mác viết lại Phúc Âm Mác sau khi Phi-e-rơ qua đời thì niên hiệu sớm nhất đối với Phúc Âm này là cuối năm 64 sau Chúa. Ngày Phi-e-rơ tuận đạo trong thời Neron bách hại. Như thế Phúc Âm này được biên soạn vào năm 65-68 sau Chúa. Taylor cho rằng “Nhiều người cho rằng nó được ghi lại vào khoảng năm 65-67”. Cramfield cũng vậy. Một vài học giả ủng hộ một niên hiệu là sau năm 70 sau Chúa. Người ta cho rằng niên hạn này là điều rất cần để hội thánh có thì giờ khai triển các truyền thống Phúc Âm được thể hiện trong Phúc Âm này. Sự tranh luận này chỉ có tác dụng đối với những người cho rằng người viết Phúc Âm này chỉ đơn giản góp nhặt các truyền thống đã được khai triển liên quan đến Chúa Jesus của hội thánh thời ban đầu. Để hậu thuẫn cho niên hiệu vào sau năm 70 này, người ta xác quyết là “lời giáo huấn có tính cách mặc khải trong chương 13 theo hình thức hiện tại của nó ám chỉ sự pha trộn trong giáo huấn của Chúa Jesus vượt trổi hơn điều mà Phi-e-rơ mong đợi”. Nhưng đây chỉ là sự đánh giá chủ quan dựa trên sự suy nghĩ về những gì Chúa Jesus nói hay không nói. Không một sự tranh luận nào liên quan đến niên hạn của Phúc Âm này có thể rút ra từ bài giảng về sự xét đoán trong tương lai của Đấng Christ, được nêu lên trong chương 13 này trừ phi chúng ta chối bỏ khả năng của Chúa trong sự tiên đoán tương lai. Guthrie vạch rõ rằng sự xung đột liên quan đến niên hiệu trong các lời chứng theo truyền thuyết có thể hòa hợp với sự phỏng đoán rằng “Mác đã khởi sự viết Phúc Âm này trước đó và đã hoàn tất sau khi Phi-e-rơ qua đời; một lời đề nghị đáng được xem xét đến hơn là tiếp nhận bình thường”. Thật ra Lange khẳng định rằng không có sự mâu thuẫn nào giữa các lời mô tả của Irenaeus và Clement “vì Irenaeus không có ý nói đến sự khởi đầu nhưng là lúc kết thúc sự soạn thảo này”. Martindale chấp nhận sự hòa hợp này và nghĩ rằng Phúc Âm được hoàn tất trước khi Phi-e-rơ qua đời nhưng không được chính thức lưu hành sau khi ông mất tức là vào năm 64 sau Chúa. Nếu chúng ta chấp nhận sự hòa hợp về bằng chứng đã được lưu truyền này, chúng ta đạt đến một niên hiệu khá xác định cho Phúc Âm Mác. Vì Phi-e-rơ đã chịu tuận đạo trong sự bách hại của Neron, thời điểm có khả năng nhất là cuối năm 64 sau Chúa, hoặc năm sau đó. Chúng tôi đề nghị niên hạn của nó nằm ở giữa năm 64 và 65 là thời điểm xuất bản Phúc Âm Mác. MỤC TIÊU CỦA PHÚC ÂM THỨ HAI Cũng như Phúc Âm Ma-thi-ơ, Phúc Âm này không chứa đựng một câu nào nói lên mục tiêu của sách. Các kết luận liên quan đến mục đích của nó phải dựa theo sự đánh giá nội dung và khung cảnh lịch sử đã phỏng định. Những nghiên cứu gần đây đem lại kết quả với sự đánh giá rất khác nhau. Phúc Âm Mác không phải là một bản tiểu sử theo ý nghĩa hiện đại. Đây là một câu chuyện kể có tính cách lịch sử liên quan đến thân vị và công tác của Chúa Jesus như là “Tin Lành” cứu rỗi. Câu chuyện này cấu thành sứ điệp độc nhất của Cơ Đốc Giáo. Mác giới thiệu Chúa Jesus Christ trong sự nghiệp chính thức và công khai là một Đầy Tớ siêng năng của Chúa và thật sự là Con Đức Chúa Trời. Điều mà Ngài đã thực hiện minh chứng Ngài là ai. Điều mà Ngài hành động xác tín điều Ngài đã dạy dỗ. Phúc Âm Mác “trình bày lịch sử của Đấng Christ, qua sự làm việc, sự biểu hiện và ảnh hưởng của Đấng Thần nhân”. Là Con của Đức Chúa Trời, người Đầy Tớ của Chúa này bày tỏ quyền năng của Ngài trên thế giới thấy được cũng như thế giới vô hình. Mác đã đưa ra một vài nhận xét cá nhân khi thuật lại những việc kỳ diệu và lời giáo huấn rất thu hút của Chúa Jesus. Ông đã để cho lời tường thuật tự minh chứng cá tính vô song và oai vệ của Ngài. Chức vụ quyền năng và nhân hậu của Ngài đã tuyên bố rằng trong Ngài, Vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến gần 115. Mục tiêu của Mác không chỉ kể lại một vị Giáo sư tôn giáo vô địch nhưng tuyên bố Chúa Jesus Christ như là Đấng mà các tiên tri Hê-bơ-rơ đã loan báo. Mục đích của ông cơ bản là để truyền giáo, đem những người mới vào đức tin Cơ Đốc. Chúa Jesus Christ hoàn toàn xứng đáng được chấp nhận và phục vụ như Cứu Chúa và Chúa. Bản ghi chép Phúc Âm phác họa sự lôi cuốn cũng như ảnh hưởng của Đầy Tớ quyền năng của Chúa. Dù cho dân chúng vây lấy Ngài, bóng vô tín vì sự thù địch công khai bắt đầu bắt lấy chức vụ của Ngài. Ngài đã bị hiểu lầm, bị tấn công, bị chối bỏ bởi chính những người mà Ngài đã đến để phục vụ và giải cứu họ. Sự thù ghét chống lại Chúa Jesus đã được các nhà lãnh đạo Do Thái giáo hô hào và cổ vũ. Điều này dấy lên khi Ngài đã không làm tròn được những mong đợi của họ liên quan đến Đấng Mê-si; tức là họ chỉ tập trung vào sự cai trị vinh diệu đã được tiên tri trước đó về Ngài. Hy vọng về Đấng Mê-si đã bện chặt vào lòng những người Do Thái có những thèm khát về chính trị. Quan điểm thăng thế thời đó là loại trừ mọi sự hiểu biết thực tế về chức vụ thuộc linh của Đấng Mê-si. Vì vậy, Chúa Jesus ít dùng đến chữ Mê-si liên quan đến Ngài. Ngài thường trình bày rằng, Ngài là con người đến để chịu khổ, và cái chết sắp đến cho họ biết Ngài là một Đầy Tớ thống khổ của Chúa. Ngài đã dùng chữ Con người nửa phô bày nửa giấu kín nhân dạng của Ngài như là Đấng Mê-si. Như thế Ngài tránh được sự tác động trên mọi người buộc họ quyết định Ngài là Đấng Mê-si cho đến lúc Ngài giúp mọi người có sự hiểu biết rõ ràng về công việc của Đấng Mê-si như thế nào. Sứ mạng Cứu chuộc của Ngài liên kết chặt chẽ với sự chết và sự phục sinh. Đây là các biến cố nổi bật trong các Phúc Âm. Hình ảnh Mác đã mô tả Chúa Jesus phù hợp với lời tuyên bố của Ngài là “vì con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” 1045. Các quan niệm hiện hành của Đấng Mê-si không bao gồm khía cạnh thần tính mà chức vụ của Đấng Christ minh chứng một cách sáng tỏ. Chúa Jesus đã hiểu và xử dụng tước hiệu “Con Người” trong ánh sáng của Đaniên Dan 713-14. Bức họa có tính cách tiên tri này truyền đạt lại cho chúng ta các Ý nghĩ siêu nhiên, phác họa một Đấng đến với những đám mây biểu trưng cho thần tính để vận dụng quyền cai trị trên thế giới đến đời đời. Tước hiệu trên đây đã được áp dụng cho Đấng Mê-si, nhưng phương diện thần tính trong câu Kinh Thánh trên đây không được nhìn nhận trong các quan điểm hiện hành liên quan đến Đấng Mê-si. Giang 1234 cho thấy quần chúng ở Giê-ru-sa-lem hiểu được cách xử dụng của Chúa Jesus về từ ngữ này như là một sự tuyên bố mình là Đấng Mê-si nhưng họ không thể hòa hợp quan niệm của họ về Đấng Mê-si còn tồn tại đời đời với sự chết của Chúa Jesus. Vào lúc xử án, Chúa Jesus đã xử dụng từ này với lời tuyên bố ám chỉ mình ngang hàng với Đức Chúa Trời để trả lời cho thầy tế lễ thượng phẩm, tòa công luận đã chối bỏ lời tuyên bố này và kết án Ngài tội lộng ngôn Mac 1461-64. Giá trị thật của con người có thể định được một cách đầy đủ trong ánh sáng của sự kiện Ngài là con của Đức Chúa Trời tự nguyện nhận lấy thập tự giá. Chìa khóa để Mác phác họa thân vị và công tác của Chúa Jesus là sự tương phản giữa tư cách của Ngài là Con Đức Chúa Trời nhục hóa với sự đau khổ và bị chối bỏ mà Ngài đã tự nguyện chấp nhận. Chân dung này chứa đựng một hỗn hợp ngoại lệ của một sức mạnh vô địch và một sự đầu phục đáng kinh ngạc. Nó mô tả sự chiến thắng vinh diệu qua sự thất bại rõ rệt. Vào năm 1901 William Wrede trong quyển sách Das Messiasgcheimnis in den Evangrlien đã đưa ra giả thuyết về sự truyền bảo của Chúa Jesus là phải giữ im lặng trong sách Mác vídụ Mac 543 736 830 99 là điều không có và do người xuất bản đưa vào. Chúng là một tác động thuộc về văn chương mà Mác đã tiếp nhận từ các quan điểm của hội thánh đầu tiên. Ông đã xử dụng ngôn từ này để cho là Chúa Jesus dạy các môn đệ trong chỗ riêng tư rằng Ngài là Đấng Mê-si; mặc dầu Ngài không tự cho mình là Đấng Mê-si. Bởi tạo ra “sự bí mật về Đấng Mê-si” Mác đã cất bỏ nguồn gây bối rối cho nền thần học của hội thánh bằng cách giải thích tại sao Chúa Jesus không được nhìn nhận Ngài là Đấng Mê-si một cách rộng rãi hơn trong lúc Ngài còn sinh hoạt trên đất. Sự đánh giá của Wrede về bản ký thuật của Mác chỉ được xem xét như “một chủ nghĩa hoài nghi sai trật liên quan đến sự ghi chép chính xác trong các sách Phúc Âm”. Tasker đã chống lại sự tấn công này dựa trên tánh xác thực của Phúc Âm là “một trong những đặc trưng sai lầm của nghệ thuật bình phẩm Phúc Âm hiện đại”. Lời phê phán của Wrede về sách Mác đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự nghiên cứu Phúc Âm, nó tạo cho người ta một ấn tượng cho rằng Chúa Jesus miễn cưỡng tuyên bố công khai chính mình là Đấng Mê-si và Ngài không chấp nhận người khác tung hô rầm rộ nhân dạng của Đấng Mê-si. Nhưng trong sự bàn luận của Stonehouse về chức vụ của Đấng Mê-si trong sách Mác đã cho thấy một vài lời ghi chép có tính cách lịch sử trong các Phúc Âm có một lời giải thích tự nhiên hơn là giả thuyết của Wrede. Xét thấy quan niệm riêng của Chúa về chức vụ của Đấng Mê-si, khác với cách sử dụng công khai từ ngữ này đã được nêu lên cho dân chúng, và lời tuyên bố rõ ràng của Ngài về chức vụ của Đấng Mê-si có tính cách gián tiếp và với một chút dè dặt. Sách Mác rất dễ hiểu khi phản ảnh các thực tế lịch sử. Hình ảnh của Chúa Jesus trong sách Mác là một Đầy Tớ chịu khổ là một sứ điệp đúng lúc cho hội thánh đang chịu bách hại. Hội thánh rất cần nhìn thấy trong Ngài kiểu mẫu làm môn đệ và sự Cứu rỗi của mình. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÚC ÂM THỨ HAI 1. SỰ VẮN TẮT Mác là sách ngắn nhất so với bốn Phúc Âm, khoảng hai phần ba chiều dài so với Lu-ca. Chiều dài tương đối này một phần là vì sự bỏ sót phần ký thuật về sự giáng sanh cũng như gia phổ của Chúa Jesus. khi trình bày câu chuyện về Đầy Tớ của Chúa, ông không cần phải kể lại sự ra đời hoặc gia phổ. Thêm vào đó, Mác loại bỏ tất cả ngoại trừ hai bài giảng dài của Chúa Jesus 41-34 133-37 và các phần này ngắn hơn so với phần trường hợp của Ma-thi-ơ. 2. HÀNH ĐỘNG Phúc Âm Mác có đặc điểm của một quyển sách hành động. Nó chuyển động bằng các bước đi không kịp thở, và mô tả sự hoạt động không ngừng nghỉ của Chúa Jesus. Tính chất của công việc Chúa làm là liên tục, đòi hỏi nhiều nghị lực và cần mẫn. Ngài thi hành công tác của mình một cách mau chóng. Trong Hi văn, trạng từ Euthus được dịch là “ngay lập tức”. Chữ này được ghi lại nhiều hơn trong bất cứ Phúc Âm nào khác. Ông thường dùng chữ “và” để buộc chặt biến cố này với biến cố khác. Chỉ có Mác ghi lại rằng Chúa Jesus quá bận rộn không thể ăn được 320 631. Quần chúng xô đẩy Ngài qua các đòi hỏi của họ một cách liên tục. Có người nhận xét là “đọc một mạch Phúc Âm này chúng ta có cảm giác như bị đám đông vây bọc và giam hãm, bị mệt mỏi bởi các đòi hỏi của họ, bị bao vây bởi các sự tấn công của quỷ”. Phép lạ của Chúa Jesus chiếm một phần lớn trong bản ký thuật. Mười tám phép lạ được ghi chép lại, hai trong số đó chỉ được trình bày trong Phúc Âm này 731-37 822, 26. Phúc Âm Mác dành nhiều chỗ ghi lại các phép lạ của Đấng Christ hơn bất cứ Phúc Âm nào khác. Mác đề cập tương đối ít các lời giáo huấn của Chúa Jesus. Ông lập lại nhiều lần là Ngài dạy dỗ nhưng không ghi chép lại Ngài đã dạy điều gì 121, 39 22,13 62, 6, 34 101 1235. Chức vụ dạy dỗ của Ngài là một phần quan trọng trong công việc của Đầy tớ của Chúa. Mác đã đề cập đến vô số các lời giảng ngắn nêu lên các lời đối đáp của Ngài với các nhà lãnh đạo tôn giáo so sánh 28-11, 17, 19-22, 25-28 323-30; 76-23; 102-12; 121-11, 38-40. Tuy nhiên những điều này hình thành một phần nguyên vẹn của các biến cố được kể lại. 3. SỰ SINH ĐỘNG Phúc Âm này cũng có một đặc điểm khác là sự sinh động và đầy đủ của các câu chuyện kể. Nhiều biến cố được kể trong các Phúc Âm tóm tắt, được Mác kể lại rất chi tiết. Bản tường thuật sinh động này đã tạo ra một ấn tượng là các câu chuyện này được thuật lại bởi một người trực tiếp chứng kiến. Nó chứa đựng những sự đụng chạm sâu hơn thêm vào những sự hồi tưởng được thuật lại của người đã quan sát. Ngôn ngữ diễn tả đơn giản hơn của Ma-thi-ơ và Lu-ca. tính cách điển hình của sách được viết và không chú ý nhiều đến chi tiết “kể lại những điều ấy theo cấu trúc câu văn ngắt ngữ 210 1132, thường hay xử dụng thì hiện tại lịch sử hòa trộn với quá khứ, cũng những nhận xét để trong ngoặt 330 717, các câu nói dùng trong văn thường đàm được xử dụng cho lời nói phổ thông”. Trong nhiều chỗ ông dùng hai thành ngữ nhưng đúng ra cần dùng chỉ một là đủ so sánh 135 24 45 92 111; 131, 19, 35 1461 4. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC Mác ghi lại câu chuyện của mình với sự ngay thẳng thành thực và không lý tưởng hóa chúng. Ông không vẽ những hào quang trên đầu các môn đồ nhưng thành thực ghi chép lại sự dại dột đôi lúc được phơi bày ra 413; 652; 817, 21 910, 32. Ông cũng không giữ lại ngay cả việc dám phê phán Chúa Jesus 438; 531. Sự lưu tâm của gia đình Chúa về sức khỏe tinh thần cũng được kể lại với sự ngay thẳng không che giấu 321, 31-35. Phúc Âm này mô tả phản ứng và cảm xúc đặc trưng cho con người của Chúa Jesus. Hunter nhận xét “Mác phô bày Chúa Jesus cho chúng ta, không như các nhà truyền đạo khác với tất cả nhân tính ân điển của Ngài.” Ông đề cập đến sự thương xót của Chúa Jesus 141; 634; 82, sự than thở của Ngài 734; 812, sự đói khát và mệt mỏi của Ngài 438; 631; 1112, sự buồn rầu của Ngài 1433-34, Ngài liếc mắt 35, 34 532; 1023; 1111, Ngài giơ tay rờ 131, 41 733; 927, sự quan tâm nồng ấm của Ngài đối với con trẻ 936; 1014-16, Ngài biểu lộ sự giận dữ và không thỏa lòng 143; 35; 916; 1014 Trong hành trình cuối cùng của Chúa Jesus đến Giê-ru-sa-lem chỉ có Mác đề cập đến sự cương quyết của Chúa Jesus khi đi trước các môn đồ giữa sự lo âu đang thắng thế 1032. Nếu Mác chỉ nhấn mạnh đến Chúa Jesus là con của Đức Chúa Trời độc nhất thì ông cũng phác họa Ngài như một con người nhiều tình cảm đã hòa trộn với con người và chia xẻ cảm xúc cùng sự khổ đau của họ. Những con người bình dân đã được Ngài thu hút và vui vẻ nghe Ngài. họ đã biểu lộ sự kinh ngạc 127; 212, phê phán 27, sợ hãi 441, ngạc nhiên 122; 62 737 cũng như sự căm ghét 141. Chỉ Mác đã ghi chép lại cho chúng ta được biết rằng Chúa Jesus là một người “thợ mộc” ở Na-xa-rét 63, một lời nhận xét bật sáng trong những năm biệt tăm trước khi bước vào chức vụ công khai của Chúa. Trong nhiều đoạn Mác ghi nhận rằng Chúa Jesus đi ẩn mình khỏi chức vụ bận rộn của mình, để trốn thoát kẻ thù và phục hồi tâm linh qua sự cầu nguyện 135, 45 37; 630-32; 724 827; 92 1111, 19. 5. CÁC QUAN NIỆM THẦN HỌC Các quan niệm thần học cơ bản trong Phúc Âm này là những điều mô tả đặc điểm của đức tin trong cộng đồng Cơ Đốc từ lúc ban đầu. Cơ Đốc luận trong sách này buộc độc giả nhìn thấy nhân dạng đầu tiên của Chúa Jesus Christ là “Con của Đức Chúa Trời” 11. Sự khẳng định liên quan tới bản chất độc nhất vô nhị của Ngài được trình bày trong Phúc Âm để xác nhận điều này qua lời chứng của Cha 111; 97 qua các quỷ 311; 57, qua chính Chúa Jesus 1332; 1461-62, qua người đội trưởng chứng kiến sự đóng đinh Chúa 1539. Yếu tố siêu nhiên này tự biểu lộ trong sự giáo huấn đầy uy quyền của Ngài cũng như các công tác lạ lùng của Ngài để đáp ứng một vài nhu cầu đặc biệt của Ngài. Nhưng Mác nhấn mạnh đến việc Chúa Jesus buộc các quỷ không được tiết lộ nhân dạng của Ngài 125, 34 312 và sự bí mật mà Ngài áp đặt trên những người được chữa lành 144; 543; 736; 826. Sau khi Phi-e-rơ thừa nhận Ngài 829, Chúa Jesus nghiêm cấm các môn đồ không được tiết lộ cho ai khác 829-30. Sự nhấn mạnh của Chúa Jesus về việc giữ bí mật và phải im lặng có lẽ vì các quan điểm không đầy đủ và sai lạc liên quan đến Đấng Mê-si trong vòng những người Do Thái. Ngài không thích xử dụng tước hiệu “Đấng Mê-si” cho chính Ngài vì trong sự suy nghĩ của quần chúng từ ngữ này hàm ý ngược lại với sứ mạng Cứu rỗi của Ngài. Trong các địa điểm không thuộc người Do Thái 519, Ngài không buộc họ giữ bí mật. Chúa Jesus thích người khác cho Ngài là “Con Người”, một tước hiệu được tìm thấy trong bốn chương của Phúc Âm này. Nó tạo cho người ta một suy nghĩ quân bình hơn. Chúa Jesus đã liên kết điều này với quan niệm về một Đầy Tớ khổ đau trong sách tiên tri Êsai. Vì nhân dạng của Ngài là Con người, Ngài đã tuyên bố mình có quyền tha tội 210 và vận dụng uy quyền của Ngài là “Chúa của ngày Sa-bát” 228. Ngài tuyên bố rằng qua sự xuất hiện của Ngài, Nước của Đức Chúa Trời đã đến gần 115. Trước mặt những lãnh tụ Do Thái chối bỏ Ngài, Chúa tiết lộ rằng cuối cùng Ngài sẽ trở lại trong quyền năng và vinh quang 938; 1326; 1462. Tuy nhiên sự ứng nghiệm chức vụ Mê-si của Ngài đòi hỏi Ngài phải gánh chịu mọi khổ đau liên quan đến Ngài như các tiên tri đã nói trước 831; 931; 1033, 45. Sự thương khó của Chúa rất sáng tỏ trong Phúc Âm này. Hai phần năm nội dung của Phúc Âm này được ghi lại hành trình của Chúa Jesus đến Giê-ru-sa-lem và các biến cố liên quan đến sự chết và sự sống lại của Ngài. 6. SỰ QUAN TÂM ĐẾN NGƯỜI NGOẠI BANG Phúc Âm thứ hai này rất thích hợp với các độc giả ngoại bang. Nó không mang nhiều màu sắc Cơ Đốc nhân Do Thái như đặc điểm của sách Ma-thi-ơ. Nó không đòi hỏi một kiến thức bao quát về Cựu ước mà đọc giả cần phải có. Mác chỉ trích dẫn một câu trong Cựu ước 12-3 lời trích dẫn trong 1528 thường bị bỏ qua vì thiếu bản thảo có thẩm quyền. Nhưng Mác lưu ý đến sự trích dẫn Cựu ước thường xuyên của Chúa Jesus. Sách Mác đề cập đến việc sai phái Mười hai Sứ đồ ra đi nhưng không ngăn cấm họ đến với người Sa-ma-ri hay người ngoại bang 67-11 so với Mat Mt 105-6. Theo như sự tường thuật của Mác về bài giảng nói đến sự xét đoán trong tương lai, thì Phúc Âm phải được rao giảng ra cho mọi dân tộc Mac Mc 1314. Chúa Jesus tẩy sạch đền thờ để bảo tồn nó như là “nhà cầu nguyện cho muôn dân” 1117. Tác giả Phúc Âm đã am tường lẽ thật là Phúc Âm của Chúa Jesus Christ được dành cho mọi dân tộc. Đây là Phúc Âm thích hợp với tâm trí của người La Mã. 7. THỨ TỰ CỦA TÀI LIỆU Lời chứng của Papias cho rằng Mác viết “chính xác” nhưng “không theo thứ tự”. Tuy nhiên ngày nay người ta cho rằng tài liệu trong sách Mác có thứ tự theo thời gian hơn là sách Ma-thi-ơ. Sự xem xét Phúc Âm Mác không cho thấy các nhóm như trong Ma-thi-ơ; nó gần như là các hoạt động nối tiếp không dứt. Mác là người điều khiển máy quay phim của bốn tác giả Phúc Âm, cho chúng ta xem cảnh nầy đến cảnh khác và không có cảnh nào bị bỏ quên. Nhưng cũng có phần gộp lại các biến cố trong 21-36, hình như được Mác gộp lại với nhau vì tất cả những điều này liên hệ đến sự đối chất của Chúa Jesus với các văn sĩ người Pha-ri-si. Hiển nhiên lời nói của Papias gợi lên sự so sánh thứ tự các biến cố trong sách Mac Mc 101-53 với các Phúc Âm khác. Plummer nhận xét như sau Ông đã đối chiếu Mác với các Phúc Âm khác mà ông xem là mẫu chính và ít có sự hồ nghi nào đối với Phúc Âm thứ tư…Nếu Phúc Âm thứ tư được ghi lại “theo thứ tự” thì Phúc Âm thứ hai đã không theo như vậy. Theo cách đó chúng ta có được ý nghĩa dễ hiểu đối với nghệ thuật bình phẩm của các trưởng lão. 8. KẾT THÚC Có một sự lầm lẫn nghiêm trọng trong bản thảo về sự kết thúc của Phúc Âm Mác. Sự lầm lẫn này tập trung vào 1619-20 của Phúc Âm đã được công nhận này. Đây là một trong những vấn nạn chính theo nguyên bản Tân ước. Các bản thảo cho thấy có ba kết thúc đối với Phúc Âm này. Đa số các bản thảo Hi văn cũng như các bản dịch cổ khác nhau cho rằng 1619-20 được xem như là “lời kết thúc dài”. Tatian xử dụng những câu này để biên soạn quyển Diatessaron 175 sau Chúa và Irenaeus 180 trích dẫn câu 19 là cách kết thúc sách Mác. Dù được chấp nhận là phần kết thúc nguyên thủy của sách Mác hay không, những câu này cũng hình thành một bản ký thuật đáng tin của thời kỳ sau giai đọan phục sinh. So với nhiều bằng chứng ủng hộ lời kết dài thì cũng có nhiều bằng chứng nghịch lại điều ấy. Bản thảo chữ lớn Aleph và B được biên soạn vào thế kỷ thứ tư kết thúc với câu 8. Văn sĩ chép bản B đã chừa lại một cột trống ở phần kết với chữ “theo Mác”. Điều này có nghĩa là ông biết có lời kết dài hơn nhưng chỉ sao lại đến câu 8. Chữ thảo 2386 vào thế kỷ thứ 12 cũng kết thúc với câu 8. Lời kết dài cũng không được tìm thấy trong bản Si-naitic Old Sy-riac và trong đa số các bản sao American cũng như bản Ethiopic. Một số bản khác bao gồm câu 9-20 nhưng thêm một lời ghi chú cho biết rằng những lời này không chắc chắn lắm. Bốn bản thảo chữ lớn có từ thế kỷ thứ sáu, tám hoặc chín, một bản chữ thảo từ thế kỷ mười ba cũng như bản thảo Sahidic, Ethiopic, Harklean Sy-riac và bản sao Bohairic có hai phần kết ngắn hơn sau câu 8 như sau Nhưng họ trình bày vắn tắt cho Phi-e-rơ và những kẻ cùng ở với ông mọi điều họ được nghe kể lại. Và sau đó chính Chúa Jesus tuyên bố ra lời công bố thánh và bền vững về sự Cứu rỗi đời đời nhờ những người đã chứng kiến từ đông sang tây. RSV Lời kết ngắn ngủi nầy theo sau câu 9-20, chắc chắn là không có nguyên văn nhưng được một vài văn sĩ thêm vào vì lời kết đột ngột ở câu 8, không được trọn vẹn cho lắm. Văn sĩ Cơ Đốc nổi tiếng đầu tiên bày tỏ sự nghi ngờ của mình về lời kết dài này là Eusebius ở Sê-sa-rê 265-340. Trong tác phẩm Question and Solutions Conurning the Passion and Resurrection of the Savior, ông nhận xét là gần như mọi bản sao của Phúc Âm theo Mác kết thúc ở câu 8. Jerime viết một quyển sách ở Bết-lê-hem vào năm 406-407 sau Chúa cũng phát biểu như vậy. Victor ở An-ti-ốt thế kỷ thứ 5 là người chú giải nổi tiếng đầu tiên sách Mác cũng lập lại lời của Eusebius và thêm sự nhận xét về lời kết này vì ông tìm thấy trong rất nhiều bản sao khác. Bản thảo Armerican của các Phúc Âm được viết vào năm 986 sau Chúa có một lời ghi chú là 169-20 do trưởng lão Ariston ghi lại. Câu này xác định nguồn gốc của tác giả nhưng không có thẩm quyền gì vì quá trễ và các câu này không do tay Mác viết ra. Như vậy chứng cớ bên ngoài phần kết thúc của sách Mác đã có sự phân hai rất rõ. Những đánh giá bằng chứng bên trong cũng đem lại kết quả như vậy. Ngày nay người ta thường chấp nhận các hiện tượng phô bày qua các câu này không phải là nguyên bản của Mác. Hort tóm tắt bằng chứng bất lợi này như sau Phần này không thể liên kết sau câu 8, đã có sự thay đổi chủ đề rất đột ngột. Văn thể hoàn toàn không giống với Mác, chúng không còn là một câu chuyện kể nữa nhưng là một lời tóm tắt các biến cố sau sự phục sinh, gồm một vài dòng nói lên một giai đoạn đáng lưu ý Tác giả bày tỏ một ước vọng mạnh mẽ khi nêu lên một bài học mà đây không phải là đặc điểm của Mác. Còn các Sinh viên khác, khi biết được các khó khăn thì lại cho rằng 169-20 là một phần của nguyên bản. Họ chấp nhận có một sự dị biệt đáng kể về văn thể, và cách trình bày giữa các câu này và phần còn lại của sách Mác. Tuy nhiên, họ cho rằng các câu này phù hợp với mục đích đặc biệt của tác giả hầu đưa ra các bước kế tiếp bởi vì các Sứ đồ không sẵn sàng tiếp nhận sự phục sinh mà họ cần phải tiếp nhận và thi hành sự ủy nhiệm lớn. Những người đề xướng tính xác thực của nó đã vạch ra rằng các câu này chứa đựng một vài tư liệu mà các Phúc Âm khác không có. Sự kiện có một vài mâu thuẫn rõ ràng về địa vị tác giả của Mác thì có một soạn giả sau đó đã giúp đáng tan được những dị biệt này. Như vậy, các sinh viên có tính cẩn thận không còn một ý kiến trong việc đánh giá các hiện tượng thực này. Đa số các học giả hiện đại cảm thấy rằng sự nổ lực kết hợp bằng chứng bên ngoài và bên trong lại đã không kết luận được rằng “lời kết dài” không phải là phần kết luận nguyên thủy của Phúc Âm Mác. “Lời kết ngắn” thì lại chắc chắn không xác thực. Việc chấp nhận kết luận lời kết dài không được Mác viết ra đưa đến hai tình huống khác nhau 1. Là Phúc Âm Mác kết thúc bằng câu 8 thì không đầy đủ 2. Là Mác có ý kết thúc Phúc Âm này với câu 8. Những ai chấp nhận quan điểm thứ nhất đã đưa ra nhiều sự phỏng đoán khác nhau để giải thích sự không đầy đủ của nó nhưng các sự phỏng đoán này không thể nào khẳng quyết được. Một số học giả hiện đại có xu hướng cho rằng Mác có ý định kết thúc Phúc Âm của mình bằng câu 8. Họ cho rằng sự kết thúc đột ngột này phù hợp với văn thể ngắt ngữ của Mác và quan điểm này giải thích được nguồn gốc của cả lời kết dài lẫn lời kết ngắn là nổ lực của các văn sĩ trong việc cung cấp một kết luận có thể chấp nhận được theo sự suy nghĩ của họ là bản ký thuật này không đầy đủ. Cho nên sự kết thúc đột ngột ở câu 8 này liên quan đến văn thể. Có một sự phản đối chống lại quan niệm này cho rằng Mác kết thúc câu chuyện của mình mà không đề cập gì đến sự hiện ra trong thân thể nào của của Đấng Christ phục sinh. Điều này đã bỏ dở lời hứa về sự hiện ra của Ngài với các môn đệ được đề cập đến trong câu 7. sự hiện hữu của hai lời kết khác nhau trong bản thảo, minh chứng một cách rõ ràng rằng qua suốt diễn trình lịch sử Cơ Đốc sự kết thúc ở câu 8 là không đầy đủ. Không có quan điểm nào đã được nêu lên có thể giải thích được hiện tượng phức tạp liên quan đến phần kết thúc của Phúc Âm Mác mà không có sự khó khăn của nó. Không một giải pháp nào thoả đáng có tính cách hổ tương nào cho vấn đề này cả. ĐẠI CƯƠNG SÁCH MÁC Mặc dù sách Mác gồm phần lớn các biến cố nối tiếp nhau. Cách sắp xếp tốt nhất là dựa vào các vùng địa lý mà Chúa Jesus đã thi hành chức vụ của Ngài. Sau phần giới thiệu, tài liệu này được phân theo vùng tức là Ga-li-lê, và các vùng phụ cận, hành trình đến Giê-ru-sa-lem và Giê-ru-sa-lem. Chủ đề của Phúc Âm là “TÔI TỚ CỦA ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.” phần đại cương này được sao lại từ quyển Mark A Portrait of the Servant, trang 20-23 I. Sự đến của người Tôi tớ, 11-13 A. Tựa sách, 11 B. Chức vụ của Giăng Báp-tít 12-8. C. Phép báp têm của Chúa Jesus 19-11. D. Sa tan cám dỗ 112-13 II. Chức vụ của người Tôi tớ, 114-1337 A. Chức vụ ở Ga-li-lê 114-434 1. Tóm tắt các sự giảng dạy 114-15 2. Sự kêu gọi của bốn ngư phủ 116-20 3. Chức vụ tại Ca-bê-na-um 121-34 a. Sự kinh ngạc trong nhà hội 121-28 b. Sự chữa lành bà gia của Phi-e-rơ 129-31 c. Chức vụ chưa lành vào lúc chiều tà 132-34 4. Hành trình vòng quanh Ga-li-lê 134-35 a. Lìa bỏ Ca-bê-na-um 135-39 b. Tẩy sạch người phung 140-45 5. Sự xung đột với các văn sĩ 21-36 a. Người bại được tha thứ và được chữa lành 21-12 b. Sự kêu gọi Lê-vi và bữa tiệc của ông 213-17 c. Câu hỏi về sự kiêng ăn 218-22 d. Sự tranh luận về việc giữ ngày Sa-bát 223-36 1 Bứt bông lúa mì trong ngày Sa-bát 223-28 2 Người teo tay 31-6 6. Chức vụ dành cho đám đông 37-12 7. Sự chỉ định mười hai sứ dồ 313-19a 8. Tổ chức chống đối Chúa Jesus 319b-35; a. Nỗi ưu tư của các bạn hữu 3; b. Bị buộc tội thông đồng với Bê-ên-xê-bun 322-30 c. Nhận biết những người có quan hệ thân thích với Ngài 331-35 9. Lời dạy có tính ẩn dụ cho đám đông 41-34 a. Khung cảnh giảng dạy 41-2 b. Nội dung của sự giảng dạy 43-32 1 Thí dụ về người gieo giống 43-20 2 Trách nhiệm của người nghe 421-25 3 Thí dụ về hạt giống lớn lên 426-29 4 Thí dụ về hạt cải 430-32 c. Tóm tắt phần thí dụ 433-34 B. Sự rút lui khỏi Ga-li-lê 435-950 1. Sự rút lui lần thứ nhất và sự trở lại 435-629 a. Khiến cho bão yên lặng 435-41 b. Sự chữa lành người Giê-ra-sê bị quỷ ám 51-20 c. Hai phép lạ lúc quay trở lại 521-43 1 Sự nài xin của Giai-ru 521-24 2 Người đàn bà bị mất huyết 525-34 3 Sự cứu sống con gái của Giai-ru 535-43 d. Sự chối bỏ Chúa Jesus người Na-xa-rét 61-6 e. Sứ mạng của Mười hai môn đệ 61-6 f. Phản ứng của Antipa đối với những lời tường trình về Chúa Jesus 614-29 1 Phản ứng hồi hộp của Hê-rốt 614-16 2 Lời giải thích về cái chết của Giăng 617-29 2. Lần rút lui thứ hai và sự trở lại 630-723 a. Nuôi dưỡng năm ngàn người 630-44 b. Bước đi trên mặt nước 645-52 c. Chức vụ chữa lành giữa vòng quần chúng 653-56 d. Lời tranh biện về sự ô uế, 71-23 1 Sự lên án truyền thống của con người 71-13 2 Nguồn gốc của sự ô uế thật 714-23 3. Lần rút lui thứ ba và sự trở lại 724-813 a. Sự thúc giục của người đàn bà Sy-rê Phê-ni-xi 724-30 b. Chữa lành người nói cà lăm và điếc 731-37 c. Nuôi dưỡng bốn ngàn người 81-10 d. Yêu cầu được xem một dấu lạ từ trời 811-13 4. Lần rút lui thứ tư và sự trở lại 814-950 a. Lời cảnh cáo về men 814-21 b. Người mù ở Bết-sai-đa 822-26 c. Sự xưng nhận của Phi-e-rơ 827-30 d. Lời công bố liên quan đên thập tự 831-91 1 Nói trước về sự thương khó sắp đến 831-32a 2 Lời quở trách Phi-e-rơ 822b-33 3 Lời giáo huấn về sự vác thập tự 834-91; e. Sự biến hóa trên núi 92-8 f. Sự bàn cãi về Ê-li 99-13 g. Sự chữa lành đứa con trai bị quỷ ám 914-29 h. Nhắc lại sự dạy dỗ về thập tự 930-32 i. Sự dạy dỗ các môn đồ ở Ca-bê-na-um 933-50 1 Câu hỏi ai là người lớn hơn hết 933-37 2 Sự nhiệt tâm lầm lẫn của Giăng 938-41 3 Tính chất nghiêm trọng của tội lỗi 942-50 C. Hành trình đến Giê-ru-sa-lem 101-52 1. Lìa bỏ Ga-li-lê 101 2. Sự dạy dỗ về sự ly dị 102-12 3. Chúc phước cho con trẻ 1013-16; 4. Câu hỏi liên quan đến sự sống đời đời 1017-22 5. Thảo luận về sự giàu có và phần thưởng 1023-31 6. Công bố về sự thương khó, lần thứ ba 1032-34 7. Vấn đề địa vị giữa vòng các Sứ đồ 1035-45 a. Yêu cầu của Gia-cơ và Giăng 1035-40 b. Lời dạy dỗ Mười hai Sứ đồ 1041-45 8. Chữa lành người ăn mày ở Giê-ri-cô 1046-52 D. Chức vụ tại Giê-ru-sa-lem 111-1337 1. Các biến cố dự bị 111-25 a. Vào thành Giê-ru-sa-lem như là Đấng Mê-si 111-11 b. Sự rủa sả cây vả 1112-14 c. Sự tẩy sạch đền thờ 1115-19 d. Bài học qua cây vả khô 1120-25 2. Sự dạy dỗ công khai ở Giê-ru-sa-lem 1127-1244 a. Các câu hỏi của kẻ thù 1127-1244 1 Câu hỏi về quyền bính 1127-1212 a Những người đặt câu hỏi nín lặng 1127-33 b Những người đặt câu hỏi bị vạch mặt 121-12 2 Câu hỏi về việc nộp thuế 1213-17 3 Câu hỏi về việc Phục sinh 1218-27 4 Câu hỏi về điều răn lớn nhất 1228-34 b. Sự phản công của Chúa Jesus 1235-40 1 Câu hỏi về danh phận làm con của Đấng Mê-si 1235-37 2 Sự lên án các văn sĩ 1238-40 c. Sự tán tụng về việc dâng hiến của người đàn bà góa 1241-44. 3. Bài giảng về sự phán xét của Chúa dành cho các môn đồ 131-37 a. Sự tiên đoán về đền thờ 131-2 b. Câu hỏi của bốn môn đồ 133-4 c. Câu hỏi có tính cách tiên tri cho các môn đồ 135-37 1 Lời cảnh cáo các môn đệ 135-13 a Hiểm họa đặc tính của thời đại 135-8 b Sự nguy hiểm giữa sự bách hại 139-13 2 Dấu hiệu kết thúc và sự tái lâm 1314-27 a Các khủng hoảng thời kỳ cuối cùng 1314-23 b Sự trở lại của Con người 1324-27 3 Những giáo huấn kết thúc 1328-37 a Bài học từ cây vả 1328-29 b Sự hoàn tất thời đại 1330-32 c Nhu cầu thức canh 1333-37 III. Sự hy sinh quên mình của người Tôi tớ 141-1547 A. Bạn và thù của Chúa Jesus 141-11 1. Âm mưu của tòa công luận 141-2 2. Sự xức dầu ở Bê-tha-ni 143-9 3. Sự phản bội của Giu-đa 1410-11 B. Nghi lễ vượt qua 1412-25 1. Chuẩn bị cho lễ vượt qua 1412-16 2. Công bố sự phản bội 1417-21 3. Sự thành lập Lễ tiệc thánh 1422-25 C. Vười Ghết-sê-ma-nê 1. Sự mặc khải trên đường đi 1426-31 2. Sự đau đớn trong vườn 1432-42 3. Sự phản bội và bị bắt giữ 1443-50 4. Người trai trẻ chạy trốn 1451-52 D. Sự xử án Chúa Jesus 1453-1520a 1. “Xử án” trước tòa công luận 1453-65 2. Phi-e-rơ chối Chúa ba lần 1466-72 3. Xử án trước mặt Phi-lát 151-15 4. Bị quân lính chế giễu 1516-20a E. Bản án xử đóng đinh 1520b-41 1. Đường đến Gô-gô-tha 1520b-22 2. Sự đóng đnh và ba giờ đầu 1523-32 3. Ba giờ cuối và sự qua đời 1533-39 4. Những người đàn bà nhìn từ xa 1540-41 F. Sự chôn thân thể 1542-47 IV. Sự phục sinh của người tôi tớ 161-20 A. Những người đàn bà đến phần một trống 161-8 B. Phần kết dài của sách Mác 169-20 1. Những sự hiện ra của Chúa Jesus 169-14 2. Sự ủy nhiệm cho các môn đồ 1615-18 3. Sự thăng thiên của Chúa Jesus 1619-20 THƯ MỤC SÁCH MÁC Alexander, Commentary on the Gospel of Mark 1858. Tái bản Grand Raptds Zondervan, Sách giải nghĩa tổng quát Phúc Âm Mác do học giả Tân ước là một người nổi tiếng nhất trong thời của mình. Dựa trên cơ sở học thức uyên bác, sách này giải thích cẩn thận ý nghĩa của bản văn. Dù là thời đại đã qua nhưng có một sự tươi mới đáng ngạc nhiên. Barnes, Albert. Notes on the New Testament, Explanatory and Practical Matthew and Mark. Robert Frew xuất bản 1868. Tái bản Grand Rapids Barker, 1962 Blunt, “The Gospel According to St. Mark” trong quyển The Clarendon Bible. Oxford Clarendon 1929. Có in thêm bản The English Revised Version. Có một chương dài nói đến các vấn đề mở đầu. Có phần giải nghĩa hoàn toàn không thành kiến. Branscomb, “The Gospel of Mark” trong quyển The Moffatt New Testament Commentary London, Hodder and Stoughton. 1937 Có bản dịch Moffatt, lời chú giải uyên bác, rộng rãi, dễ đọc, hình thành quan điểm và sự sắp xếp theo Moffatt. Bruce, Alexander Balmain. “The Synoptic Gospel.” trong quyển The Expositor Greek Testament, quyển 1. Grand Rapids Eerdmans, “Commentary on the Gospel of Mark” trong quyển An American Commentary. 1881. Tái bản Philadelphia Amer. Bapt. Pubn. Soc., Sách giải thích có tính cách bảo thủ, dù xuất bản đã lâu nhưng vẫn còn có giá trị nghiên cứu bản văn của Phúc Âm. Giải thích đầy đủ nhưng không chấp nhận lời kết là sự biên soạn của Mác. Cole, “The Gospel According to St. Mark” trong quyển The Tyndale New Testament Commentaries. Grand Rapids Esrdmans,1961. Sách giải nghĩa ôn hòa, rất thích hợp với độc giả không chuyên. Tiết lộ ý nghĩa của Phúc Âm không dùng nhiều từ kỹ thuật. Tài liệu mở đầu có giá trị. Cranfield, “The Gospel According to Saint Mark” trong quyển Cambridge Greek Testament Commentary. In lần thứ ba. Cambridge Cambridge U., 1966. Có bản Hi văn. Sách bình phẩm hiện đại theo bản Hi văn do một học giả nổi tiếng người Anh. Lời diễn đạt ôn hòa và phủ nhận các quan điểm cực đoan của các học giả hiện đại. Earle, Ralph. “The Gospel According to Mark” trong quyển Evangelical Commentary on the Bible. Grand Rapids Zondervan, 1957. Bao gồm bản dịch của tác giả. Có một tiểu sử rất đầy đủ. Phần bình phẩm tiết lộ tác giả rất quen thuộc với văn chương của Phúc Âm thứ hai. không viết cho các sinh viên cao cấp nhưng dành cho các học viên Kinh Thánh không chuyên. Phần giải nghĩa chính xác, ôn hòa và rất đầy đủ. English, E. Schuyler. Studies in the Gospel According to Mark. New York Pubn. Office “Our Hope,” 1943. Cách xử lý bao quát, nhiệt thành của một giáo sư Kinh Thánh đương thời, rất nổi tiếng. Bảo vệ nguyên bản của Mác với lời kết của Phúc Âm đã được công nhận. Erdman, Charles R. &The Gospel of Mark. Philadenphia. Westminster, 1917. Sách giải nghĩa từng phân đoạn rất có giá trị thích hợp với độc giả không chuyên. Không có thuật ngữ chuyên môn, có sự xử lý ôn hòa và tôn kính với bản văn Kinh Thánh. Gould, Ezra P, “A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel According to St Mark.” trong quyển The International Critical Commentary. Edinburgh T. và T. Clark. 1896. Có bản Hi văn, lời chú giải uyên thâm, thích hợp với những học viên biết tiếng Hy Lạp. Có nhiều tư liệu giá trị. Mặc dù không phải là một trong những quyển sách nổi bật trong loạt sách này, nói chung nó có quan điểm rất ôn hòa. Grant, Frederich C., và Luccock, Halford E. “The Gospel According to St. Mark” trong quyển The Interpreter’s Bible. Quyển 7. New York Abingdon Cokesbury, 1971. Tư liệu về Mác của hai học giả nổi tiếng chia làm hai phần. Phần luận bình của Grant đơn sơ và ít có giá trị. Phần giải thích bằng cách đưa ra chi tiết của Luccock là một tư liệu rất phong phú cho sự rao giảng. Hiebert, D. Edmond. Mark, a Portrait of the Servant. Chicago Moody, 1974. Nghiên cứu từng cụm từ trong quan điểm ôn hòa. Sự phát biểu có hệ thống ý nghĩa của sách Mác qua việc chuyên sâu vào cấu trúc văn phạm, lịch sử và thần học để chiếu sáng cho văn bản. Hunter, The Gospel According to St. Mark. Torch Bible Commentaries. London SCM, 1949. Sách chú giải vắn tắt, nhiều ý nghĩa nhấn mạnh đến vấn đề thần học và tôn giáo hơn là một sự phân tích, phê phán bản văn Mác. Có quan điểm rất ôn hòa. Johnson, Sherman E. A Commentary on the Gospel According to St. Mark. Black’s New Testament Commentaries. London Adam & Charles Black, 1960. Có in bản dịch riêng của tác giả. Lời chú giải mới nhất về sách Mác dựa trên các ý kiến phê phán hiện đại. Nó nghi ngờ về tính xác thực của nhiều câu nói cũng như các biến cố của Phúc Âm. Jones, Alexander. The Gospel According to St. Mark A Text and Commentary for Students. New York Sheed and Sheed, 1963. In lại bản Revised Standard Version cùng các lời chú giải của tác giả, có ý giữ bản văn Kinh Thánh ở trước mặt khi học viên nghiên cưú. Đây là công trình của một học giả Công Giáo La Mã nổi tiếng. Lời chú giải vắn tắt dành cho các học viên nghiên cưú Kinh Thánh không chuyên và có ít điểm dị biệt trong sự liên lạc với hội thánh của tác giả. Lời giới thiệu có một họa đồ thông tin duy nhất về nội dung của Phúc Âm. Lane, William L. “The Gospel According to Mark.” trong bản New International Commentary. Grand Rapids Eerdmans, 1974. Phần giải thích dài 650 trang, do một học giả có nhiều tri thức ôn hòa. tìm cách trình bày ý nghĩa của Phúc Âm Mác như một công trình có tính chất văn học sáng tạo. Tác giả đã cô đọng sự phong phú giàu có của Phúc Âm này qua sách báo. Lange, John Peter “The Gospel According to Mark” trong quyển Lange’s Commentary on the Holy Scripture Critical, Doctrinal and Homiletical dịch từ Đức ngữ, với phần bổ sung của Philip Schaff. Tái bản Grans Rapids Zondervan, Theo kiểu mẫu chú giải sách Ma-thi-ơ của tác giả Lenski, The Interpretation of St Mark’s and St. Luke’s Gospels. Columbus, Ohio Lutheran Book Concern, 1934. Một trong các lời chú giải ôn hòa tỉ mỉ nhất Phúc Âm Mác được xuất bản trong thế kỷ này. Công trình của một học giả hội Trưởng lão. In các bản dịch theo nguyên văn của tác giả. Dựa trên công trình nghiên cứu theo nguyên văn Hy Lạp nhưng các học sinh không biết Hi văn có thể xử dụng dễ dàng. Đã được nhiều khen thưởng qua việc giải thích cẩn thận bản văn Mác. Lindsay, Thomas . The Gospel According to St. Mark. Sách chỉ dẫn cho các lớp học Kinh Thánh và học riêng. Edinburgh T&T. Clark, 1883. Luận bàn sách Mác theo quan điểm ôn hòa. Rất thích hợp với các đọc giả không chuyên dù đã cũ nhưng vẫn có giá trị với các nhận xét tỉ mỉ và tài liệu lịch sử. Morgan, The Gospel According to Mark. New York Revell, 1927 Một loạt ba mươi bài giảng dựa trên sách Mác, đã giải thích điểm chính dài hơn. Các sứ điệp liên hệ đến phần Phúc Âm, các bài giải nghĩa có giá trị do kiến thức của người rao giảng nhưng không đạt tiêu chuẩn cao như loạt bài luận về sách Ma-thi-ơ. Morison, James A Pratical Commentary on the Gospel According to St. Mark. Xuất bản lần thứ 8. London Hodder & Stoughton, 1896 Có một sự thảo luận thông suốt các vấn đề mở đầu trong lời giới thiệu dài 80 trang. Lời chú giải tỉ mỉ, ôn hòa và uyên bác vẫn còn có giá trị rất lớn. Nó tiết lộ tác giả rất quen thuộc với văn chương sách Mác trong thời của mình. Có sự nghiên cứu tỉ mỉ các vấn nạn liên quan đến lời kết được công nhận của Phúc Âm và mạnh mẽ bảo vệ nguyên văn của Mác. Nineham, D. E. The Gospel of St. Mark. The Pelican Gospel Commentaries. Tái bản 1963 Baltimore, Md. Penguim, 1967. Một công trình thông thái đã tỉ mỉ ứng dụng các quan điểm phê phán. Có in bản Revised Standard Version. Tác giả hồ nghi nhiều dữ kiện lịch sử trong nội dung sách Mác. Plummer, A. “The Gospel According to Trong quyển Cambridge Greek Testament for Schools And Colleges. 1914. Tái bản . Cambridge Cambridge U., 1938. Có bản Hi văn. Quyển sách có ích cho các học viên biết Hi văn do một học giả nổi tiếng người Anh của thế hệ trước, có quan điểm ôn hòa. Rawlinson, St. Mark Westminster Commentaries. In lần thứ 2. London Methuen, 1927. Có in bản English Revised Version 1881. Phần giới thiệu rất tốt, phần chú giải rất có ích cho các học viên cao cấp. Có tài liệu luật pháp Do Thái có giá trị. Riddle, Matthew B. “The Gospel According to Mark”. Trong bản The International Revision Commentary on the New Testament. New York Scribner, 1881. Lời chú giải dựa trên bản Revised Version 1881. Khi bản dịch này vừa ra đời. Phần chú giải chính xác rõ ràng, ôn hòa theo bản văn Kinh Thánh. Salmond, St. Mark. The Century Bible. Edinburgh & Jack, Có in bản English Revised Version. Lời giải thích khá đầy đủ, súc tích Phúc Âm do một học giả ôn hòa của thế hệ trước. Schweizer, Eduard. The Gospel News According to Mark. Do Donald H. Madvig. Richmond, Va. Knox, 1970. Bản văn trích từ Good News for Modern’s Man. Do The American Bible Society xuất bản. Đây là công trình của một học giả Đức không thành kiến, xử dụng hình thức cơ bản và phương pháp bình phẩm theo thứ tự khi khảo sát nội dung Phúc Âm Mác. Quan điểm của ông không căn bản bằng Bultman. Tác giả có một văn phong phức tạp của tiếng Đức. Swete, Henry Barclay. The Gospel According to St. Mark. In lần thứ hai. Tái bản. London Macmillan, 1905. Có bản Hi văn. Một trong các bản chú giải tốt nhất trước đây dành cho các học viên biết Hi văn. Có lời giới thiệu và phần giải thích bản văn quân bình và đầy đủ. Dẫn chứng từ các nguồn cổ điển. Một tác phẩm có giá trị lâu dài, rất có giá trị dù đã được viết lâu. Taylor, Vincent. The Gospel According to St. Mark. In lần thứ hai. New York St. Martin’s, 1966. Có bản Hi văn. Quyển sách rất có giá trị gồm 700 trang, theo kịp kiến thức bình phẩm ngày nay. Taylor xử dụng phương pháp bình phẩm, bảo vệ tính chất lịch sử trong tài liệu của Mác. Lời giới thiệu quan trọng 149 trang. Không có giá trị đối với các sinh viên cao cấp. Wuest, Kenneth S. Mark in the Greek New Testament for the English Reader. Grand Rapids Eerdmans, 1950. Có xu hướng giúp đỡ các đọc giả Anh ngữ vạch ra các sự phong phú của nguyên văn Hy Lạp nhờ bản dịch diễn ý và các ý kiến phê phán bản Hi văn. Không đề cập đến các vấn đề bình phẩm.
[ Hoa Ngữ Anh Ngữ Việt Ngữ Câu Truyện Phúc Âm ] Đời Sống Cơ Đốc Nhân 6Cầu Nguyện/Tĩnh Nguyện 2Gia Đình 3Halloween 6Kinh Thánh 1Lễ Giáng Sinh 22Lễ Phục Sinh 20Lễ Tạ Ơn 6Lời Chứng 28Lời Khuyên 1Năm Mới 3Ngày Đặc Biệt 7Ngày Từ Mẫu 7Ngày Thân Phụ 7Những Ngày Cuối Cùng 3Phúc Âm 13Sự Biện Giải 4Sự Cứu Rỗi 27Tôn Giáo/Giáo Phái 1Tình Yêu Thương 15Tha Thứ 1Thương Tiếc/An Ủi/Bình An 8Thăm Viếng 2Thiên Đàng/Địa Ngục 7Thiếu Nhi 12Thiếu Niên 2Vấn Đề Hiện Thời 6Yêu Nước 3Mục Lục 223 Lời cầu nguyện tiếp nhận Chúa Lạy Thiên Chúa, Đấng chủ tể, sáng tạo và bảo trì muôn loài, là đấng dựng nên con. Con nhận biết mình có tội đối với Chúa. Con biết Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chết trên thập giá để chịu án phạt thế cho con. Con xin ăn năn tội, tiếp nhận Chúa, trao thác đời con từ nay để Chúa làm chủ. Xin Chúa tha tội cho con, nhận con làm con dân Ngài, ban cho con có sự sống sung mãn, bình an trong đời nầy và thiên đàng vinh hiển đời sau. Xin Chúa Thánh linh ngự trong con, hướng dẫn cuộc đời con. Con cầu nguyện trong danh Chúa Giê-xu. Nếu bạn có câu hỏi nào khác, xin liên lạc với chúng tôi. 264,231227,453,379
CHÚA NHẬT CUỐI / PHỤC SINH A LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG . ĐỀ TÀI THÁNH THẦN VÀ SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG 1. TIN MỪNG Ga 20,19-23 19 Vào chiều ngày ấy, Ngày Thứ Nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói “Bình an cho anh em !”. 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì Người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. 2. Ý CHÍNH Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giê-su Phục Sinh đã hiện ra với các môn đệ khi ấy đang mang tâm trạng hoang mang sợ hãi 19, để ban bình an và niềm vui cho các ông và cho thấy Người đã sống lại từ cõi chết 20. Cuối cùng người còn ra lệnh cho các ông tiếp tục sứ mệnh thừa sai của Người 21b. Để hỗ trợ cho các ông chu toàn sứ mệnh, Người đã thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông kèm theo quyền tha tội hay cầm giữ tội của người ta 22. 3. CHÚ THÍCH - C 19-20 + Ngày Thứ Nhất trong tuần Ngày nay, Giáo Hội đã chọn Ngày Thứ Nhất trong tuần để mừng mầu nhiệm Chúa Phục Sinh và gọi là Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa. Đây là ngày lễ nghỉ, thay thế Thứ Bảy Sa-bát của Do Thái Giáo. + Đức Giê-su đến Đức Giê-su đến với các môn đệ trong khi các cửa nhà vẫn đóng kín. Điều này cho thấy thân xác phục sinh của Người có đặc tính thiêng liêng siêu việt, có khả năng hiện diện khắp nơi. + Bình an cho anh em ! Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa Đức Ki-tô Phục Sinh đem lại sự bình an x. Ga 20, và niềm vui x Ga 20,20 cho các môn đệ x Ga 14,27. + Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Đức Giê-su Phục Sinh cũng là Đấng trước đó đã bị đóng đinh chân tay vào thập giá x. Ga 19,18, và bị lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn x. Ga 19,34. Điều này cho thấy có sự liên kết giữa hai mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su - C 21-23 + Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em Tông đồ nghĩa là “được sai đi”. Sứ mạng này xuất phát từ Chúa Cha đã truyền cho Đức Giê-su, và giờ đây Chúa Giê-su Phục Sinh lại truyền cho các môn đệ và mọi tín hữu. + Người thổi hơi vào các ông và bảo “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” Theo Kinh Thánh, hơi thở chính là sinh khí hay sự sống. Như xưa, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào con người A-đam và ban sự sống cho ông x. St 2,7, thì nay, Đức Giê-su Phục Sinh cũng thổi Thần Khí cho các môn đệ. Rồi đến lượt các môn đệ lại sẽ trao ban sự sống thiêng liêng ấy cho các tín hữu qua các bí tích. + “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” Đức Giê-su được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian Ga 1,29. Khi làm phép lạ chữa lành một người bại liệt, Đức Giê-su đã cho thấy Người có quyền tha tội x. Mt 9,6. Trong Tin Mừng hôm nay, Người thiết lập bí tích giải tội, ban quyền tha tội cho các Tông đồ bằng việc ban Thánh Thần cho các ông. Từ đây các Giám Mục, kế vị các Tông đồ sẽ tiếp tục thông ban quyền tha tội cho các linh mục là những cộng sự viên của các ngài. 4. CÂU CHUYỆN 1 GIEO TRỒNG LÀM PHÁT SINH CẢ MỘT CÁNH RỪNG SỒI Vào thập niên 1930, có một thanh niên một mình đi thám hiểu dãy núi AN-PƠ Alpes nước Pháp. Anh ta đi ngang qua một dải đất đồi trọc rộng mênh mông. Dải đất này vừa hoang vắng không người lai vãng, lại vừa mấp mô xấu xí và không đáng để người ta quan tâm. Bỗng nhiên anh ta thấy một ông già đang khòm lưng làm việc, trên vai đeo một cái túi khá nặng chứa đầy hạt sồi. Tay ông cầm một khúc ống sắt dài khoảng 1m20. Ông đang dùng ống sắt ấy đâm sâu xuống mặt đất, làm thành những chiếc lỗ cách nhau khoảng 3 mét, Rồi ông thò tay vào túi hạt sồi lấy ra một nắm đặt vào mỗi lỗ một hạt. Khi anh thắc mắc thì ông giải thích như sau “Nhà tôi ở trong vùng đất hoang vu này. Trước kia tôi cũng có gia đình. Nhưng vợ và 3 đứa con của tôi đã lần lượt bị chết do một dịch bệnh cách đây gần một năm. Sau khi vợ con chết hết, tôi buồn bã chán nản không thiết làm việc trồng tỉa như truớc, mà suốt ngày chỉ đi thơ thẩn khắp vùng để giải khuây. Một hôm tôi đi ngang qua khu vực đồi trọc rộng bao la này và muốn làm một việc gì đó để cho cuộc đời của mình có ý nghĩa. Tôi nảy ra ý định sẽ gieo hạt giống từ cây sồi trong vườn sau nhà, để phủ xanh khu vực đồi trọc này. Tuy biết mình đã lớn tuổi chẳng còn sống được bao năm và không có con cái thừa kế, nhưng tôi vẫn cố gắng làm việc này với hy vọng sẽ để lại cho các thế hệ mai sau một quả đồi đầy những cây sồi. Đến nay, sau một năm miệt mài gieo trồng, tôi ước tính đã gieo được cả trăm ngàn hạt sồi xuống đất. Chỉ cần một phần mười số hạt này mọc lên thôi, thì tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi”. Hai mươi năm sau, anh thanh niên kia giờ đã trở thành một người trung niên, lại có dịp đi ngang qua khu vực này. Ông ta sửng sốt khi thấy khu vực đồi trọc hoang vu trước đây hai chục năm, giờ đã biến thành một khu rừng sồi rất đẹp, rộng hai dặm và dài khoảng năm dặm. Tại rừng sồi này có nhiều lòai chim làm tổ và chạy nhảy trên cành ca hát líu lo. Nhiều loài thú hoang như hươu nai cũng đang nhởn nhơn gặm cỏ. Hoa sồi nở rộ khắp nơi lan tỏa mùi thơm khắp vùng. Toàn cảnh khu vực giống như một vườn địa đàng. Ông nhận định rằng Sở dĩ có được thành quả tốt đẹp này là do bàn tay của ông lão tốt bụng hai mươi năm trước đã có công vun trồng để lại. Lễ Hiện Xuống cũng mời gọi các tín hữu chúng ta hành động để góp phần xây dựng và mở rộng Nước Chúa đi khắp hòan cầu. Tuy không có khả năng làm thay đổi thế giới, nhưng chúng ta vẫn có thể biến đổi phần nào môi trường sống của mình, giống như ông lão trong câu chuyện trên đã làm. Mỗi chúng ta đều đã được Chúa ban cho một túi hạt sồi ân sủng và một khúc ống sắt tài năng khi ta lãnh nhận phép Thêm Sức. Chỉ cần một chút can đảm của ông lão trồng sồi, cùng với ơn Thánh Thần hỗ trợ, chúng ta cũng có thể góp phần làm cho thế giới ta đang sống ngày một an toàn trật tự, công bình nhân ái và tốt đẹp thịnh vượng hơn. 2 THÁNH THẦN SẼ CHO BIẾT Ý NGHĨA CỦA CUỘC SỐNG Có một nhà hiền triết nọ khi đi lang thang trong rừng, đã không ngừng lặp lại câu hỏi Đâu là ý nghĩa của cuộc sống? Bỗng một con họa mi bay đến và nói Ý nghĩa cuộc sống ư? Chỉ là tiếng hót véo von. Rồi nó bay đi nhưng vẫn còn vương lại những âm thanh dễ mến. Nghe vậy, chú chuột chù phản đối Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng với bóng tối. Thế nhưng chị bướm lại lắc đầu không chịu Cuộc sống chỉ là sự hưởng thụ và vui thú. Bấy giờ bác ong mật phát biểu Cuộc sống không chỉ là vui thú, mà còn là lao động, lao động nhiều hơn vui chơi. Cô phượng hoàng thì vỗ cánh và nói Chẳng ai có lý hết, đời sống chính là tự do, được tung bay trên bầu trời xanh bao la. Cụ tùng bách thì lắc đầu bảo Đời sống là một cố gắng để vươn cao. Nhưng cô hồng nhung lại quả quyết Cuộc đời chỉ là những tháng ngày trau chuốt cho vẻ đẹp thêm duyên dáng. Còn chàng mây lang thang lại thở dài Đời sống chỉ là những lần gặp gỡ rồi chia ly, gây bao khổ đau, cay đắng và nước mắt. Còn bà sóng thần thì bảo Đời là một sự đổi thay không ngừng. Nhà hiền triết nghe các loài vật phát biểu đã bị hốt hoảng và chạy trốn ra khỏi khu rừng để khỏi phải nghe thêm tiếng nói của muôn loài trước một vấn nạn vẫn chưa được giải quyết. Còn chúng ta hôm nay thì sao? Rất có thể chúng ta cũng đã băn khoăn như nhà hiền triết, để rồi cảm thấy như bế tắc, không tìm ra đáp số cho bài toán. Thế nhưng với biến cố Hiện xuống, các môn đệ Chúa đã nhìn rõ vấn đề, đã thấu suốt được những chân lý mà Thầy Giê-su đã truyền dạy. Nhờ ơn Thánh Thần ban, chúng ta hôm nay cũng sẽ nếm thử được niềm an bình mừng vui, bởi vì chúng ta xác tín rằng Quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta sẽ gặp Đấng Cứu Chuộc là Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta ». Nhờ đức tin, chúng ta sẽ có một cái nhìn mới, biết đánh giá đúng những thực tại trần gian, và biết sử dụng chúng để xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp sau này. 3 THÁNH THẦN SẼ MANG LẠI BÌNH AN THỰC SỰ CHO TÂM HỒN Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất nói về sự bình an thực sự. Nhiều họa sĩ đã ra công vẽ tranh và gửi tác phẩm đến xin dự thi. Nhà vua ngắm mọi bức tranh và đã xác đinh bức tranh nào đẹp và ý nghĩa nhất. Bức tranh thứ nhất vẽ cảnh một hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bay lơ lửng. Mọi người xem đều đánh giá đây là bức tranh về sự an bình thật sự. Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi cao nhưng lại không cây cối và chỉ lởm chởm những tảng đá xám xịt. Bầu trời trên cao đang giận dữ đổ mưa lớn kèm theo sấm chớp sáng lòe. Bên vách núi có một dòng thác đang đổ nước xuống dòng suối bên dưới làm nổi bọt trắng xóa. Bức tranh xem ra chẳng có chút gì bình an. Nhưng khi đến gần quan sát kỹ, nhà vua nhìn thấy phía sau dòng thác có một bụi cây nhỏ mọc lên từ vết nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang giang rộng đôi cánh ủ ấp mấy con chim non. Dù giữa dòng thác đang trút nước xuống ầm ầm, mà chim mẹ vẫn không bị giao động, chỉ lo ấp ủ bảo vệ đàn con của mình. Chính điều này đã diễn tả một sự an bình thực sự. Nhà vua công bố “Ta chấm bức tranh này! Vì sự bình an không chỉ là không có sóng gió, không gặp phải khó khăn gian khổ. Bình an thực sự chính là dù đang sống giữa phong ba bão táp, mà tâm hồn vẫn giữ được sự bình an thư thái. 4 ĐỔI MỚI PHƯƠNG CÁCH LOAN BÁO TIN MỪNG HÔM NAY Từ ngày đến nay, các phương tiện truyền thông đã nhiều lần nhắc đến tên một nữ tu sơ CRIS-TI-NA SCUC-CI-A, 25 tuổi, thuộc Hội Dòng UR-SU-LINE THÁNH GIA, trong thành phố Mi-la-no nước Ý. Đơn giản chỉ vì sơ đã tham gia vào chương trình The voice of Italy của đài TV RAI 2 trong mùa giải thi năm nay và đã vượt qua nhiều vòng thi trước đó. Ở vòng thi giấu mặt, khi nghe sơ hát bài “No One” của Alicia Keys, cả 4 giám khảo 2 nam, 2 nữ đều nhanh chóng quay mặt lại, tròn xoe đôi mắt kinh ngạc, ban đầu là chăm chú nhìn rồi đến thích thú. Trên YouTube, màn trình diễn của sơ chỉ sau ba ngày đã đạt được con số 13 triệu lượt người xem. Tính đến nay, số lượt xem đã hơn 49 triệu. Alicia Keys, tác giả bài hát đã bày tỏ sự thán phục bằng chữ “beautiful”. Diễn viên nổi tiếng Whoopi Goldberg, vai chính trong phim “Sister Act” cũng ghi lời tán thưởng. Đặc biệt, Hồng y Gian Franco Ravasi, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn Hóa, trên trang Twitter đã khích lệ bằng một câu Kinh Thánh “Mỗi người hãy dùng ơn Chúa ban để phục vụ người khác 1Pr 4,10”. Giải thích về việc tham gia cuộc thi, sơ Cris-ti-na cho biết “Vì ĐGH Phanxicô kêu gọi hãy mang tiếng nói của Chúa đến với mọi người”. Báo chí dựa vào đây để khẳng định tiếng hát của sơ là cách đem Chúa đến với mọi người trên thế giới hôm nay, nhất là các bạn trẻ vốn gần gũi với ngôn ngữ âm nhạc, đồng thời cũng cho thấy dẫu là môi trường ngoài đời hay cả những bài hát đời, nếu trình bày với hết tâm hồn, cũng có thể quy hướng người ta về nguồn Chân Thiện Mỹ là chính Thiên Chúa. ĐGH Phanxicô đã kêu gọi công cuộc truyền giáo mới ngày nay rất cần đến nhiệt tình mới, phương pháp mới và ngôn ngữ mới. Hát chính là một trong những ngôn ngữ hiệu quả cần được sử dụng để loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay. Sơ Cris-ti-na đã dùng tài năng ca hát như một đặc sủng do Chúa Thánh Thần ban cho để làm chứng cho Chúa, như sơ đã phát biểu khi có người thắc mắc lý do tại sao một nữ tu lại tham gia vào việc ca hát ngoài xã hội “Tôi có một món quà để trao tặng. Tôi đến đây để loan báo Tin Mừng”. 5. SUY NIỆM 1 QUYỀN NĂNG VÀ SỨC MẠNH CỦA THÁNH THẦN TRONG HỘI THÁNH Hôm nay lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là dịp nhắc nhở mỗi người chúng ta hãy tin vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. Hãy hân hoan bước đi trong lòng Hội thánhvì Thánh Thần của Chúa Giê-su vẫn luôn ở cùng Hội thánh. Thánh Thần là Thần Chân Lý sẽ hướng dẫn Hội thánh đạt tới chân lý toàn vẹn. Hội thánhluôn được tăng triển nhờ có sức sống thần linh là Thánh Thần. Thực vậy, ban đầu Hội thánhchỉ có 12 Tông đồ yếu kém cả về trình độ văn hóa lẫn tài năng, nhưng đã có thể chu toàn được sứ vụ Chúa Giê-su trao ban là đi loan báo Tin mừng khắp thế gian. Tông đồ Phê-rô từng hèn nhát chối Thầy, nhưng sau đó đã can đảm rao giảng về Đức Giê-su tử nạn và phục sinh cho dân chúng thuộc nhiều tiếng nói khác nhau, và nhờ ơn Thánh Thần ban nên có tới 3 000 người đã tin Chúa và xin gia nhập đạo. Hội thánhChúa Ki-tô dù phải trải qua bao sóng gió, bị đàn áp giết hại, nhưng vẫn đứng vững và ngày một phát triển khắp thế gian là nhờ quyền năng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Cũng chính Chúa Thánh Thần đã biến anh Sao-lô từ một kẻ cuồng tín đạo Do thái đem quân đi bách hại đạo Chúa, trở thành Tông đồ Phao-lô nhiệt thành làm chứng cho Chúa khắp nơi. Ngày nay, tuy Hội thánh vẫn nhiều khuyết điểm và thậm chí có những mục tử còn phạm những tội ác xấu xa, bị xã hội lên án, khiến những kẻ thù ghét Hội thánh bài bác và nhiều tín hữu yếu lòng bị mất đức tin…, nhưng chúng ta tin rằng Hội thánh vẫn luôn có Chúa Thánh Thần ở cùng và giúp vượt qua thử thách, để chu toàn được sứ vụ được Chúa Giê-su trao phó là đi loan báo Tin Mừng khắp thế gian. 2 VAI TRÒ CỦA THÁNH THẦN TRONG SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO Một phóng viên đã đặt câu hỏi với một chuyên viên Kinh Thánh như sau Nếu nhờ khoa học tiến bộ, người ta sáng chế ra đươc một máy quay phim ngược thời gian. Máy này có thể thu lại mọi hình ảnh và lời giảng của Đức Giê-su cách đây hơn 2000 năm. Vậy bộ phim ấy có thể thay thế bốn sách Tin Mừng không? Nhà chuyên viên trả lời Không thể được, bởi vì đức tin không phải là do mắt thấy tai nghe, nhưng là do ơn Chúa Thánh Thần tác động trong lòng người thấy và nghe, để họ tin theo Chúa. Thực vậy bọn biệt phái ngày xưa đã từng thấy Đức Giê-su, từng nghe lời Người giảng, từng chứng kiến bao phép lạ Người làm, thế mà họ không những không tin, mà còn đòi quan Phi-la-tô kết án đóng đinh Người vào thập giá. Riêng các Tông đồ dù đã đi theo Đức Giê-su, nhưng các ông cũng chỉ thực sự được ơn biến đổi sau biến cố tử nạn và phục sinh của Người, và nhờ được ơn Thánh Thần tác động vào lễ Ngũ Tuần. 3 THÁNH THẦN THÁNH HÓA CÁC TÍN HỮU QUA CÁC PHÉP BÍ TÍCH Từ khi lãnh nhận phép Rửa Tội, nhất là khi chịu phép Thêm Sức, Thánh Thần cũng được ban cho các tín hữu. - Thánh Thần hiện diện khi các tín hữu họp nhau lắng nghe Lời Chúa. Thánh Thần cũng soi sáng, giúp chúng ta thực hành Lời Chúa giữa đời thường x. Ga 14,17, giúp ta tuyên xưng “Đức Giê-su là Chúa” x. 1 Cr 12,3 và gọi Thiên Chúa là “Áp-ba! Ba ơi!” x. Rm 8,15, giúp chúng ta sống như con Thiên Chúa x. Rm 8,1. Thánh Thần sẽ làm cho chúng ta nên công chính, không còn sống theo tính xác thịt, nhưng sống cuộc đời mới tốt đẹp hơn x. Rm 8,10-13, giúp ta cùng chịu đau khổ với Đức Ki-tô để cùng được vào trong vinh quang phục sinh với Người x. Rm 8,17. - Chính Thánh Thần làm cho Hội thánh hiệp nhất qua việc ban nhiều ơn đặc sủng khác nhau để phục vụ lợi ích chung cộng đoàn 1 Cr 12,4-11, nhất là ơn nói các thứ tiếng khác và nói tiên tri x. 1 Cr 14,5. - Ngày nay Thánh Thần cũng hiện diện nơi các vị chủ chăn và cộng đoàn khi họp nhau cử hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Trong phần phụng vụ Lời Chúa đầu thánh lễ, Thánh Thần sẽ giúp các tín hữu lắng nghe, hiểu biết và sống Lời Chúa dạy. Trong phần Phụng Vụ Thánh Thể, Thánh Thần biến bánh rượu trở thành Mình Máu Chúa Giê-su sau khi truyền phép. Thánh Thần được ví như linh hồn của Hội thánh. Nếu không có Thánh Thần thì Hội thánh cũng chỉ như một xác chết không hồn mà thôi. 4 THÁNH THẦN SẼ GIÚP CÁC TÍN HỮU LÀM CHỨNG CHO CHÚA - Cách đây 20 năm ở xứ Long Châu thuộc Giáo phận Nam Ninh bên Trung Quốc, ban đầu chỉ mới có một gia đình Ông Trùm là tin Chúa. Nhưng nhờ gia đình ông trình bày cho dân làng về Chúa. Kết quả là sau đó hầu như cả làng đều đã tin Chúa. Mỗi năm vào dịp lễ Giáng Sinh và Phục Sinh đều có trên dưới 20 người được chịu phép rửa tội để gia nhập đạo. Khi được hỏi Nhờ bí quyết nào mà việc truyền giáo của ông mang lại hiệu quả tốt đẹp như thế, thì ông Trùm trả lời “Nhờ đời sống gia đình”. Bên Trung quốc, đời sống gia đình trong thời đại mới hiện nay gặp nhiều khủng hoảng Vợ chồng thường bất hoà với nhau; con cái không còn vâng lời cha mẹ và có khi còn hành hung cha mẹ; số gia đình tan vỡ ly hôn ngày càng gia tăng. Trong khi đó gia đình Ông Trùm vẫn giữ được nề nếp trên thuận dưới hoà vợ chồng thương yêu kính trọng nhau, con cái vâng lời cha mẹ, anh chị em quan tâm đùm bọc lẫn nhau. Thấy thế, nhiều người trong làng đã nhận xét về đạo công giáo như sau “Công giáo là đạo tốt, vì các tín hữu đã có thể giữ được hạnh phúc gia đình”. Nhờ gương sống đạo của gia đình Ông Trùm mà dân làng đã nhận ra giá trị tốt đẹp của đạo Công Giáo và đã tin theo Chúa. - Ngày nay để chu toàn sứ vụ làm chứng cho Chúa, chúng ta phải làm ba việc như sau + Một là tín thác vào Chúa Đừng quá lo lắng về vật chất “phải ăn gì mặc gì” như người lương. Nhưng “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho.” Mt 6,33. + Hai là lắng nghe lời Chúa, tìm hiểu ý Chúa và năng tham dự bàn tiệc Thánh Thể Như hai môn đệ làng Em-mau xưa, đã được nghe vị khách giải thích Kinh Thánh dọc đường và được tham dự lễ Bẻ Bánh với Chúa tại tư gia, nên đã nhận biết Chúa và lập tức quay về Giê-ru-sa-lem loan báo Tin vui Phục Sinh cho các anh em x. Lc 24,33-35, + Ba là phải được Thánh Thần ban ơn trợ giúp Các môn đệ Đức Giê-su đã “đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su” CV 1,14, nên các ông đã nhận được ơn Thánh Thần để thi hành sứ vụ rao giảng về Chúa Giê-su. Chinh nhờ ơn Thánh Thần ban,nên sau bài giảng đầu tiên của Tông đồ Phê-rô đã có ba ngàn người xin theo đạo. 6. NGUYỆN CẦU LẠY CHÚA THÁNH THẦN. Xin hãy đến như cơn gió mát thổi vào tâm hồn chúng con, thổi vào Hội Thánh, thổi vào thế giới hôm nay, để làm tươi mát dịu dàng và ban sự tự do thanh thoát. Xin hãy đến như dòng nước trong lành chảy vào cuộc đời chúng con, chảy vào Hội Thánh, chảy vào thế giới hôm nay, để tẩy sạch mọi tội lỗi nhớp nhơ, làm dịu đi những khô cằn, uốn lại những tấm lòng cứng cỏi, và làm phát sinh những mầm xanh sự sống. Xin hãy đến ban lửa hồng chiếu sáng đời con, chiếu sáng Hội Thánh, chiếu sáng thế giới hôm nay, để xua tan bóng đêm tội lỗi khỏi tâm hồn chúng con, đẩy lùi các đam mê thấp hèn khỏi lòng trí chúng con, làm bùng cháy lên ngọn lửa tin yêu và khiêm nhường phục vụ Chúa đang hiện thân nơi người nghèo đói, bệnh tật và bị bỏ rơi. LM ĐAN VINH
BÀI SỐ 0130 CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG C ĐỀ TÀI TỈNH THỨC ĐÓN CHỜ NGÀY CHÚA KI-TÔ TÁI LÂM . CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG C ĐỀ TÀI TỈNH THỨC ĐÓN CHỜ CHÚA KI-TÔ TÁI LÂM . 1. TIN MỪNG Lc 21, 25 Khi ấy Đức Giê-su phán cùng các môn đệ rằng “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. 26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. 27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. 28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. 34 Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, 35 vì ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. 36 Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người. Đó là Lời Chúa 2. Ý CHÍNH Bài Tin mừng hôm nay là một phần trong diễn từ cánh chung của Đức Giê-su và được viết theo lối văn khải huyền x. Lc 21,5-36. Trong đó Đức Giê-su cho biết sẽ có những điềm lạ trên trời dưới đất, tiên báo việc Con Người sẽ đến trên đám mây, đầy quyền uy cao cả. Người cũng dạy các tín hữu phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để chờ đón ngày ấy. Cần tránh sa đà vào các đam mê, để khi Chúa đến bất ngờ, họ sẽ không lo bị phạt, và có thể đứng vững trước mặt Vua thẩm phán Giê-su. 3. CHÚ THÍCH - C 25-26 + Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao Người Do thái thời xưa quan niệm không gian có ba tầng Trời, đất và biển. Qua câu này, Đức Giê-su muốn dùng những hình ảnh có tính khải huyền, để diễn tả sự can thiệp dứt khoát của Thiên Chúa trên vũ trụ mà Ngài sắp giải thoát chúng khỏi sự dữ x. Rm 8,19. Vì thế sự rung chuyển của ba tầng trời là dấu chỉ báo hiệu sự sụp đổ của chúng trong ngày tận thế x. Kh 21,1-8. - C 27-28 + Con Người Đức Giê-su xưng mình bằng danh hiệu “Con Người”, vì danh hiệu này thể hiện đúng sứ mệnh Thiên Sai của Người. Danh hiệu Con Người có hai ý nghĩa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau Một là “Người tôi tớ của Đức Gia-vê” sẽ phải chịu đau khổ để đền tội thay cho nhân loại x. Mc 8,31; Hai là “Chúa Con sẽ được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” x. Tv 110,1, và sẽ tái lâm đến trên mây trời vào ngày tận thế, để trở thành Thẩm Phán tối cao xét xử thế gian, và thiết lập một “Vương quyền vĩnh cửu” x. Đn 7,13-14. +Ngự trên đám mây Mây được coi như xa giá của Thiên Chúa. Câu này cho biết Đức Ki-tô sẽ ngự đến trong uy quyền và vinh quang như Thiên Chúa. +Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên Trong ngày đó, thái độ của các tín hữu sẽ là “đứng thẳng” và “ngẩng đầu lên” trong niềm hy vọng và vui mừng vì sắp nhận được ơn cứu độ. Trong Tân ước, cứu độ không những ám chỉ cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su thực hiện trên núi Sọ x. Rm 3,24-26, mà còn ám chỉ công trình Người sẽ hoàn tất vào lúc cuối thời, khi Người quang lâm và làm cho mọi xác phàm được sống lại x. Lc 21,28. - C 34-35 + Đề phòng Đồng nghĩa với cảnh giác. Đức Giê-su nhắn nhủ các tín hữu phải luôn cảnh giác vì tính cách bất ngờ của ngày tận thế. +Chiếc lưới bất thần chụp xuống Giờ chết của mỗi người hay ngày tận thế chung toàn nhân lọai ví như chiếc lưới bất thần chụp xuống như ngư phủ chài lưới bắt cá. Việc chụp lưới này mang ý nghĩa là không ai tránh thoát được. - C 36 + Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn Tỉnh thức là không mê ngủ, là luôn ở tư thế “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” để chu toàn bổn phận được trao phó x. Lc 12,35-48. Tỉnh thức còn là sự trung tín với Chúa. “Cầu nguyện luôn” nghĩa là cầu nguyện không ngừng x. Lc 18,1, không nhàm chán hay nản chí x. Lc 18,1. Cầu nguyện luôn là cách biểu hiện một đức tin mạnh mẽ sống động. +Đứng vững trước mặt Con Người Nếu biết tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng thì các tín hữu sẽ được cứu khỏi cơn gian nan thử thách sắp xảy đến và có thể đứng vững vào ngày tận thế trước toà phán xét. 4. CÂU CHUYỆN 1 GIA ĐÌNH ÔNG LÓT ĐƯỢC CỨU THOÁT NHỜ SỐNG TỈNH THỨC Ngày xưa có một ông cụ già cố cứu kinh thành Sôđôm khỏi bị Chúa tiêu diệt bằng cách mỗi ngày đi gặp người dân trong thành để cảnh cáo và kêu gọi mọi người tin Chúa, thờ Chúa cho khỏi bị tiêu diệt. Không ai chịu nghe lời ông cụ mà còn chế diễu là mê tín dị đoan nữa. Ông cụ vẫn bền chí đi hết nhà này sang nhà nọ để kêu gọi họ thống hối ăn năn. Thấy chuyện vô tích sự của cụ, nên có người hỏi – Tại sao cụ nói cho họ biết làm gì cho mệt. Họ có nghe cụ và thay đổi gì đâu? Nói với họ cũng như nước đổ đầu vịt! Ông cụ bình tĩnh đáp – Có lẽ tôi không thuyết phục nổi ai, cũng không thay đổi được ai đâu. Nhưng làm như thế cũng là giúp tôi, để tôi đừng lao mình vào cuộc sống sa đoạ giống như họ. Câu truyện trên chính là chuyện ông Lót trong kinh thành Sô-đôm. Ông đã thất bại khi ra sức cảnh báo người đương thời hãy tích đức hành thiện. Và cuối cùng chỉ gia đình ông Lót được cứu thoát khỏi cơn bão lửa tiêu diệt cả thành Sô-đôm. 2 NGÀY CÙNG TẬN BẤT NGỜ CỦA CON TÀU TI-TA-NIC Đêm các báo đài trên thế giới đồng loạt đưa tin về con tàu Ti-ta-nic nổi tiếng bị đắm. Bấy giờ tàu này đang chạy trên vùng phía Bắc Đại Tây Dương, không may đụng phải một tảng băng ngầm. Sự va chạm mạnh khiến thành tàu bị lủng một miếng lớn, và bị nước ào vào các khoang trong hầm tàu. Mấy tiếng đồng hồ sau thì con tàu đã bị gãy ra làm đôi và chìm xuống đáy biển, mang theo phần lớn hành khách và toàn bộ thủy thủ đoàn. Ti-ta-nic là một con tàu vĩ đại dài 271 mét, rộng 28 mét, cao 22 mét với 8 tầng lầu và mỗi phòng đều có đầy đủ tiện nghi. Trên tàu có phố chợ, hồ bơi, sân chơi thể thao, rạp hát, vườn bông, nhà hàng... Số hành khách có mặt trên tàu khi gặp nạn vào khoảng 1500 người. Hầu hết là các người có địa vị cao trong xã hội như các ông hoàng bà chúa, chính khách, đại phú gia, nghệ sĩ, thương gia... Con tàu Ti-ta-nic này khi hạ thủy đã được đánh giá là có độ an toàn tuyệt đối, thách thức được mọi thời tiết. Nhưng trong thực tế khi mới khởi hành được mấy ngày thì tàu đã gặp phải một tai nạn thảm khốc nhất trong lịch sử hàng hải thế giới. Gần đây, trong dịp kỷ niệm biến cố đắm tàu Ti-ta-nic, một tạp chí tôn giáo kia, sau khi nhắc lại thảm họa, đã nêu ra câu hỏi để độc giả suy nghĩ như sau “Giả như chúng ta có mặt trên con tàu Ti-ta-nic khi nó đang bị chìm, thì chúng ta có tiếp tục vui chơi ăn uống khiêu vũ... mà quên rằng mình sắp bị chết chìm hay không?”. 3 HÃY LÀM NGAY NHỮNG GÌ CẦN LÀM CHỨ ĐỪNG TRÌ HOÃN Giai thoại về tướng quân Archais của Hy Lạp năm xưa. Ông là một vị tướng giỏi, đánh trận nào thắng trận đó. Sau một trận thắng lớn, ông khao quân lính một bữa tiệc thịnh soạn. Giữa cuộc vui, một sứ giả đem đến cho ông bức thư khẩn báo tin là ông đang bị mưu sát và cần phải đề phòng. Thay vì mở thư ra đọc và cảnh giác, ông lại nhét lá thư vào túi, rồi vẫn tiếp tục cuộc nhậu và tự nhủ mình rằng “Thôi cứ để ngày mai hãy tính”. Ngay trong đêm đó, ông đã bị kẻ gian giết chết. Câu chuyện gợi nhắc lời Chúa trong Tin mừng hôm nay “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em” Lc 21, 34. Điều mỗi người chúng ta cần lưu ý là “Điều cấp bách cần làm hôm nay thì đừng trì hoãn để đến ngày mai kẻo muộn”. 4 TỈNH THỨC ĐỒNG NGHĨA VỚI LỐI SỐNG NGHIÊM TÚC Một vị thanh tra kia khi đến thăm một trường tiểu học đã nói với các em học sinh như sau “Hôm nay thầy thấy có nhiều học sinh đã để bàn học mất trật tự, lớp học thì ồn ào và rác rến vung vãi mất vệ sinh. Vậy thầy quyết định sẽ trở lại đây để kiểm tra các em một lần nữa. Từ nay tới hôm thầy trở lại, em nào giữ được bàn học sạch sẽ, sách vở ngăn nắp sẽ được thưởng”. Bấy giờ có mấy em hỏi “Thưa thầy, khi nào thầy sẽ trở lại ạ ?”. Thầy đáp “Thầy sẽ trở lại. Nhưng không cho các em biết ngày giờ chính xác”. Sau khi thầy thanh tra đi, một cô bé liền nói với mấy đứa bạn rằng mình quyết tâm sẽ dành được phần thưởng của thầy. Các bạn khác nghe vậy liền cười ồ chế diễu, vì cô bé này ít khi nào có thái độ chỉnh tề ngăn nắp. Có bạn hỏi rằng “Bàn học của bạn chẳng khi nào chỉnh tề mà bạn lại đòi được lãnh phần thưởng hay sao ?” Nhưng cô bé trả lời “Từ ngày mai, mỗi buổi sáng tớ sẽ thu xếp dọn dẹp bàn học ngay khi mới đến là sẽ gọn gàng ngay thôi mà”. Bạn kia lại hỏi “Thế nếu thầy thanh tra đến vào buổi chiều hay tối thì sao ?” Cô bé im lặng suy nghĩ một lát rồi nói “Thôi, mình hiểu rồi. Như thế là lúc nào mĩnh cũng phải giữ cho bàn học thứ tự gọn gàng và sạch sẽ phải không các bạn ?”. 5. SUY NIỆM Hôm nay lịch phụng vụ bắt đầu Mùa Vọng, là thời gian trông mong Chúa lại đến. Chúng ta được nghe Lời Chúa nhắc nhở “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em” Lc 21,34. 1 CÁI CHẾT THƯỜNG DẾN BẤT NGỜ Lời Chúa hôm nay đề cập đến sự bất ngờ như sau “Anh em phải đề phòng, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em” Lc 21,34. Nơi khác Chúa Giê-su cũng nói “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến... Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” Mt 24, 2 NHƯNG KHÔNG HOÀN TOÀN BẤT NGỜ Vì Chúa vẫn thương yêu chúng ta. Người luôn cho chúng ta nhiều tín hiệu báo trước về cái chết, để chúng ta kịp thời chuẩn bị. Mỗi khi thấy một người chết vì bệnh tật hay bị tai nạn... thì đó chính là tín hiệu do Chúa gửi tới để nhắc chúng ta về cái chết của mỗi người chúng ta. Khi ta không may té xe bị thương nhẹ, hoăc bị trơn trượt té ngã cầu thang ; rồi khi phát hiện ra mấy sợi tóc bạc xuất hiện trên đầu, một chiếc răng sâu làm đau đến nha sĩ xin nhổ ; Đôi mắt ta ngày càng nhìn mờ đi, cần phải đi cắt kiếng cận để đeo ; Tay chân ta bị bệnh thấp khớp sưng lên khiến ta đi lại khó khăn, hoặc một cơn đau tim nhẹ xuất hiện... Đó chính là những tín hiệu cho thấy sức khỏe chúng ta suy yếu và tiên báo thần chết đang đến gần! Chúng ta không nên cố tình bịt tai nhắm mắt trước những tín hiệu ấy, nhưng hãy tìm hiểu ý nghĩa và chuẩn bị tâm hồn để sẵn sàng đón Chúa đến trong giờ chết bất cứ lúc nào. 3 PHẢI LÀM GÌ TRONG NHỮNG NGÀY MÙA VỌNG NÀY ? - Phải canh thức và đề phòng Đừng để cho những đam mê lạc thú bất chính, những nhu cầu của thể xác như cơm, áo, gạo, tiền... chi phối chúng ta, làm cho chúng ta quên đi cùng đích cuộc đời là được về Nhà Cha trên trời. Trong khi chờ đợi ngày ấy, chúng ta cần phó thác cuộc sống trong tay Chúa Quan Phòng và ưu tiên tìm kiếm Nước Trời như Lời Chúa phán “Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi Ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây?” Mt 6,31. Vậy “trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người. Còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” Mt 6,33. - Phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn * Tỉnh thức là không “chè chén say sưa”, không mê đắm hưởng thụ các đam mê xác thịt đời này. Tỉnh thức là không “lo lắng sự đời”, nghĩa là không mê say tìm kiếm những giá trị tạm bợ nhất thời là danh, lợi, thú ». Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Tỉnh thức còn là thái độ trung tín tuy đang còn sống trong thế giới hôm nay nhưng tâm hồn phải hướng về những giá trị thiêng liêng vĩnh cửu ở đời sau. * Cầu nguyện Ta phải cầu nguyện vì “tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn." Mt 26,41. Cầu nguyện để luôn thức tỉnh. không mê ngủ, nhưng luôn “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” để đón Chúa đến bất cứ lúc nào x. Lc 12,35-48. Cầu nguyện luôn nghĩa là cầu nguyện không ngừng x. Lc 18,1, không nhàm chán hay nản chí x. Lc 18,1. 4 THỰC HÀNH LỜI CHÚA THẾ NÀO TRONG NHỮNG NGÀY NÀY ? * Năng tưởng nhớ đến Chúa Chúng ta hãy làm những việc bổn phận thường ngày kèm theo một lời nguyện tắt như Lạy Chúa. Con xin làm việc này để cầu cho một người quen được sớm nhận biết tin yêu Chúa ». Mỗi ngày có biết bao giờ phút có thể gặp gỡ Chúa mà chúng ta lại bỏ qua, như Khi phải ngồi chờ người bạn đến trễ; Khi dừng xe ở ngã tư để chờ đèn xanh; Khi món quà mới mua đang được đóng gói; Khi đang trong thang máy để lên phòng làm việc; Khi đang ngồi máy tính mà bất ngờ bị cúp điện... Những lúc ấy, thay vì sốt ruột bực tức, chúng ta hãy thưa chuyện với Chúa “Lạy Chúa Giê-su. Xin dạy con yêu mến Chúa”.- “Lạy Chúa. Xin cho cha mẹ, chồng vợ, con cái, anh em con luôn khỏe mạnh và bình an ”. * Năng đến nhà thờ dự lễ và dọn mình rước lễ mỗi ngày Khi tham dự thánh lễ, chúng ta sẽ được nghe Lời Chúa, đón nhận được sức sống của Chúa, nhờ đó sẽ ngày một hoàn thiện nên giống như Chúa Cha trên trời x. Mt 5,48. * Luôn tỉnh thức đón chờ Chúa đến Khi tổ chức mừng thọ 60, 70 tuổi… chúng ta cần ý thức ngày giờ Chúa đến có thể đã gần bên cửa. Hãy nhớ rằng khi chết, chúng ta không thể mang theo vàng bạc vật chất trần gian. Chỉ những của cải thiêng liêng như các việc từ thiện bác ái và các đóng góp để “làm cho danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến” mới có giá trị trước tòa Chúa phán xét x Mt 25,34-40. Do đó ta cần phải cấp thời lo hòan thành những gì đang còn dở dang hoặc các công trình văn hóa muốn lưu truyền cho con cháu. Ngòai ra các bậc làm cha mẹ hay các vị có trách nhiệm lãnh đạo cộng đòan cũng cần làm di chúc. Cần liệu sao để bản di chúc có giá trị pháp lý và ủy thác cho người có uy tín đứng ra thi hành, hầu tránh tình trạng tranh chấp tài sản giữa các thành viên trong gia đình ruột thịt. 6. NGUYỆN CẦU LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con thường nghĩ mình không có giờ cầu nguyện, không có giờ đi vào sa mạc để trò chuyện với Chúa. Nhưng thật ra sa mạc luôn ở ngay bên và ở trong lòng con. Chỉ cần một chút cố gắng là con có thể tạo ra sa mạc cho mình. Mỗi ngày có biết bao giờ phút có thể gặp gỡ Chúa mà con lại bỏ qua… Xin cho con năng dâng lời nguyện tắt lên Chúa để được sống kết hiệp với Chúa và có sự bình an trong tâm hồn. Thật hạnh phúc cho chúng con nếu khi Chúa đến bất ngờ, mà thấy chúng con đang tỉnh thức cầu nguyện và đang trong tư thế sẵn sàng đón chờ Chúa đến. LM ĐAN VINH
câu chuyện phúc âm