Chính Quyền Việt Nam Tước Đoạt Tài Sản Của Công Dân Hoa Kỳ Cuối tháng 4 năm 1975, 150 nghìn người Việt di tản được Hoa Kỳ vớt trên Biển Đông và nhận định cư. Đến cuối năm 1980 phần lớn trong số họ đã trở thành công dân Hoa Kỳ. Từ năm 1975 đến 1988, cả triệu người vượt biên tìm tự do, phần lớn đến Hoa Kỳ định cư.
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 90 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 116 (10) Báo cáo khảo sát "200 doanh nghiệp top của Việt Nam" của UNDP - Hà Nội (11) Văn kiện Hội nghị
Tuy nhiên, BLDS quy định riêng thời hiệu khởi kiện kiện đòi lại tài sản mà áp dụng theo quy định BLTTDS Theo đó, Điềm Khoản 22 Điều Luật sửa đổi bổ sung số điều BLTTDS 2011 quy định: Theo quy định kiện đòi lại tài sản trường hợp không áp dụng kiện đòi lại tài
Hòa giải tranh chấp đất đai không thành thì người có yêu cầu có thể khởi kiện vụ án để Tòa án giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, quy định của pháp luật thì bao lâu sau khi hòa giải không thành tại cơ sở chúng ta có quyền khởi kiện tại Tòa án Nhân dân.
Gian nan đòi nợ chồng cũ. PNO - "Chồng cũ nợ con trai số gạo cấp dưỡng 10kg một tháng trong thời gian 13 năm, tính ra là 1,56 tấn gạo. Giờ con trai tôi đã có vợ con, tôi đi đòi quyền lợi cho con cháu mình", bà T.A. trình bày như vậy khi làm thủ tục khởi kiện chồng cũ. Đòi
Khởi kiện đòi lại tài sản công ty bị trộm cắp . Trong trường hợp công ty bị trộm mất tài sản. Biết được tài sản hiện đang do ai chiếm giữ; thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài
Thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản qua hợp đồng vay tiền Trường hợp bên vay tiền có nghĩa vụ phải trả tiền theo thỏa thuận vay, nhưng bên vay cố tình không trả thì bên cho vay có quyền yêu cầu cơ quan tòa án nơi bị đơn đang cư trú để yêu cầu được giải quyết. Hồ sơ khởi kiện bao gồm các giấy tờ sau đây: Đơn khởi kiện.
TVCkB. HỒ SƠ MẪU VỤ ÁN KIỆN ĐÒI TÀI SẢNHồ sơ mẫu cho bài kiểm tra thực hành dành cho các bạn luật sư tập sự tham khảo để chuẩn bị bước vào kỳ kiểm tra sát hạch luật NÓI ĐẦUKính thưa– HỘI ĐỒNG KIỂM TRA HẾT TẬP SỰ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ– BAN CHỦ NHIỆM ĐOÀN LUẬT SƯ NỘI Tôi tên Phạm Thùy A, là người tập sự hành nghề luật sư tại Công ty Luật B – Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Trong quá trình tập sự tại Công ty luật B tôi được Luật sư NGUYỄN VĂN C, giám đốc điều hành đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện cho tiếp cận hồ sơ vụ việc để nghiên cứu, tham gia thảo luận, soạn thảo các đơn thư và đưa ra quan điểm của mình về giải quyết các vụ việc và tham dự phiên tòa xét xử. Thực hiện quy định về kiểm tra hết tập sự luật sư. Tôi xin kính trình Hội đồng kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư, hồ sơ kiểm tra thực hành của tôi. Bài kiểm tra hết tập sự luật sư này, được xây dựng trên cơ sở một vụ án dân sự mà Công ty Luật Tiền Phong được khách hàng – là nguyên đơn mời,để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Vụ án đã kết thúc tốt đẹp theo đúng yêu cầu và mong mỏi của khách hàng. Tuy nhiên, vì kiến thức pháp luật và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên trong bài kiểm tra thực hành này không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong Ban giám khảo của Hội đồng kiểm tra hết tập sự, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội giúp đỡ, góp ý để tôi có thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm để phục vụ cho quá trình hành nghề luật sư sau này. Xin trân trọng cảm ơn Ban giám khảo Hội đồng kiểm tra hết tập sự, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư Tp Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi tham dự đợt kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư lần này. Cảm ơn Luật sư NGUYỄN VĂN C, giám đốc Công ty Luật B đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tập sự cũng như hướng dẫn, góp ý cho tôi thực hiện hồ sơ kiểm tra thực hành trọng,Hà Nội ngày 25/4/2016 Người tập sự hành nghề Luật sưPHẠM THÙY AMỤC LỤCSố thứ tựNội dungTrangPHẦN ITÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆCICĂN CỨ TIẾP NHẬN VỤ VIỆCIITÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆCIIIYÊU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG VÀ PHẠM VI CÔNG VIỆC ĐƯỢC LUẬT SƯ HƯỚNG DẪN PHÂN CÔNGPHẦN IIPHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VỤ ÁNICĂN CỨ PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆCIIBẢN CHẤT VÀ QUAN HỆ PHÁP LÝ PHẢI GIẢI QUYẾTIIIÝ KIẾN TƯ VẤN HOẶC QUAN ĐIỂM BÀO CHỮA LƯU Ý LÀM CHẶT CHẼPHẦN IIIKẾT QUẢ THỰC HIỆN VỤ ÁNINỘI DUNG CÔNG VIỆC THỰC HIỆN THEO PHÂN CÔNG CỦA LUẬT SƯ HƯỚNG DẪNIIKẾT QUẢ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆCPHẦN IVBÀI HỌC KINH NGHIỆM, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤTPHỤ LỤCDANH MỤC TÀI LIỆU ĐÍNH KÈMHỒ SƠ KIỂM TRA THỰC HÀNHVỤ ÁN DÂN SỰV/v ĐÒI TIỀN Luật sư NGUYỄN VĂN C, Giám đốc Công ty Luật B, tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà ITÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN CĂN CỨ TIẾP NHẬN VỤ VIỆCNgày 9 tháng 02 năm 2015, tại Công ty đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng là Ông Lê Hoàng, sinh năm 1950, có hộ khẩu thường trú tại …… Hà Nội. Nhận thấy, vụ án này là cơ hội rất tốt để cho tôi học hỏi thêm các kĩ năng về tranh tụng nên tôi chủ động yêu cầu tổ chức hành nghề luật sư nơi tôi đang tập sự được tham gia toàn bộ quá trình tố tụng của vụ án cho đến phiên tòa sơ thẩm trong vụ án Luật sư hướng dẫn Luật sư NGUYỄN VĂN C TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆCĐầu năm 2011, vợ chồng Ông Lê Hoàng có nhu cầu mua đất để xây nhà ở lâu dài nên tìm đến gặp Đỗ Thị Hương để đặt vấn để mua lô đất G12-L01 Khu A Dương Nội của Tập đoàn X mà bà Hương đang rao bán với giá trị của lô đất là 8,2 tỷ 28/01/2011, ông Hoàng đã giao cho Hương số tiền 7,7 tỷ đồng để mua lô đất trên. Đỗ Thị Hương đã viết cho ông Dư “ giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và Giấy biên nhận tiền; đồng thời cũng giao cho ông Dư văn bản xác nhận góp vốn của tập đoàn Nam Cường đứng tên ông Nguyễn Ngọc Minh cùng phiếu thu thời hạn 2 tuần như đã hứa, bà Hương vẫn không làm được thủ tục để ông Hoàng ký hợp đồng mua lô đất G12-L01 với tập đoàn gian sau đó, bà Hương vẫn khất lần việc sang tên lô đất cho ông Hoàng. Tìm hiểu ra ông Hoàng mới biết, khu G trong đó có lô đất G12-l01 tập đoàn X không có kế hoạch phát triển nữa và đã thông báo cho khách hàng từ cuối năm 2010, theo đó mọi khách hàng sẽ chuyển sang khu khác, khách hàng nào không chuyển coi như đã hủy hợp 18/9/2012 tập đoàn X có ra công văn số 223/CV-NCHN trả lời đơn kiến nghị của bà Hương “Việc chuyển nhượng lô đất nêu trên giữa ông Nguyễn Ngọc Minh và bà Đỗ Thị Hương là không đúng quy định của pháp luật vì ông Minh chưa ký bất kỳ một thỏa thuận, hợp đồng hoặc thủ tục gì liên quan đến việc mua bán chuyển nhượng lô đất nêu trên…”Do bà Hương không thực hiện cam kết đã viết ngày 13/4/2012 nên ngày 13/3/2013 bà Hương có viết giấy cam kết và giao cho ông Hoàng giữ một số giấy tờ để làm tin gồmGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ đỏ diện tích 1050m2 đứng tên bà Hương tại địa chỉ Thôn Yên Mỹ – xã Bình Yên – huyện Thạch Thất – Hà đồng góp vốn căn hộ E28B56 diện tích 100,1m2 đã đóng tiền 70% đứng tên bà thu tiền lô đất Q1 – C20 thuộc dự án “Thung lũng – Thanh Xuân” địa chỉ Công ty cổ phần Thanh Xuân-Thị xã Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh PhúcBà Hương cam kết hết tháng 10/2013 nếu không giải quyết được thì số tài sản trong giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của ông 03/5/2013 bà Hương chính thức xác nhận bà chưa thể ra hợp đồng đứng tên ông theo thỏa thuận và lại hứa sẽ thu xếp trả tiền cho ông vào tháng 9/2013. Nếu hết thời gian đã hứa mà không trả tiền cho ông thì những tài sản trong các giấy tờ bà Hương đã giao cho ông ngày 13/4/2012 thuộc sở hữu của ông. Bà Hương có trách nhiệm ra công chứng sang tên cho nhiên, bà Hương vẫn không chịu thực hiện cam kết và chỉ khất lần. Ngày 16/9/2013 bà Hương bất ngờ chuyển nhà mà không cho ông Hoàng biết địa chỉ. Ông Dư gọi điện rất nhiều lần thì bà Hương đều trả lời không có tiền để trả. Vì vậy, tháng 11/2013 ông mới làm đơn tố cáo bà Hương về hành vi lừa đảo. Tại cơ quan cảnh sát điều tra Hà Nội, bà Hương đã trả cho ông Hoàng triệu đ, còn lại 7 tỷ quan điều tra đã có kết luận công văn về việc kết quả xác minh, giải quyết tố giác tội thì có nội dung “…tập đoàn X có văn bản gửi Cơ quan điều tra khẳng định Lô đất G12-L01 khu đô thị mới Dương Nội của Tập đoàn X sẽ đơn phương thanh lý giấy xác nhận góp vốn và trả lại tiền cho ông Minh theo quy định của pháp luật. Tập đoàn X không chấp nhận việc mua bán chuyển nhượng giữa ông Minh và bà Hương, tập đoàn X không liên quan gì đến bà Hương và ông Hoàng. Bà Hương không có quyền gì với lô đất G12-L01 của tập đoàn X. Vì vậy cơ quan thấy bà Hương không có gì để chuyển nhượng cho ông Hoàng, bà Hương phải có trách nhiệm trả lại tiền cho ông Hoàng, kèm theo lãi suất hai bên đã thỏa thuận. Đây là tranh chấp dân sự, nếu hai bên không thỏa thuận giải quyết được thì đề nghị Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật”. Như vậy, bằng kết luận này, cơ quan điều tra đã khẳng định giao dịch giữa ông Hoàng và bà Hương là giao dịch dân 3 năm 2014, ông Hoàng làm đơn khởi kiện ra Tòa Án quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để kiện đòi tài sản mà nguyên đơn là bà Đỗ Thị Hương với 4 nội dung yêu cầu khởi kiện sauTuyên giao dịch vô hiệuYêu cầu bà Hương trả lại tiền 7 tỷ và lãi suất theo quy định của ngân hàng nhà nướcBồi thường thiệt hạiÁp dụng biện pháp khẩn cấp tạm 8/5/2014, Tòa án đã thụ lý vụ đó, Tòa án có ra thông báo gửi các chủ đầu tư và Phòng Tài nguyên Môi trường nơi có tài sản là bất động sản của Đỗ Thị Hương nhằm xác minh thông tin tài sản và yêu cầu hạn chế giao dịch với những tài sản 6/9/2014, Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng phiên tòa phải hoãn 3 lần, lần thứ 3 là ngày 29/10/ 29/11/2014, Tòa án có thông báo số 21A/TB-TA với nội dung “Tòa án nhận được đơn khiếu nại của chị Đỗ Thị Hương và anh Phạm Hồng Kỳ. Vì vậy, cần chờ kết quả giải quyết khiếu nại mới mở lại phiên tòa được. Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa sẽ được Tòa án thông báo sau.”Được biết bị đơn khiếu nại về 1 thẩm quyền tòa án với đề nghị chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân quận Tây Hồ giải quyết; 2 khiếu nại về các văn bản Tòa án quận Hai Bà Trưng phát hành yêu cầu dừng các giao dịch tài sản của Đỗ Thị Hương là trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị điểm của Bà Đỗ Thị Hương bị đơn bác toàn bộ khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoàng; yêu cầu ông Hoàng tiếp tục thực hiện hợp đồng và đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Minh và tập đoàn X vào vụ án đòi mốc giao dịch cụ thể giữa bà Hương và ông HoàngNgày 28/01/2011 Bà Hương viết Giấy nhượng quyền sử dụng đất cho ông Dư và Giấy biên nhận số tiền 7,7 tỷ do ông Hoàng 13/4/2012 Bà Hương viết Giấy biên nhận với nội dung cam kết lần 1 nếu hết ngày 31/5/2012 mà không ra được hợp đồng đứng tên ông Hoàng thì sẽ “thu xếp tài chính” để trả lại cho ông Hoàng 7,7 tỷ, thời gian chuyển tiền trong vòng 20 ngày, kể từ ngày 31/5/ 13/3/2013, Bà Hương viết Giấy cam kết cam kết lần 2 và Biên bản nhận giấy tờ với nội dung thể hiện bà Hương giao cho ông Hoàng một số giấy tờ tài sản của vợ chồng bà Hương và cam kết đến tháng 10/2013 sẽ giải quyết với ông Minh. Nếu sau thời gian trên mà không giải quyết xong thì số tài sản trên thuộc quyền sở hữu của ông 03/5/2013 Bà Hương viết Giấy cam kết cam kết lần 3 cam kết “sẽ thu xếp số tiền mà tôi đã nhận của anh Hoàng là đồng đến cuối tháng 9/2013 tôi sẽ thanh toán”; “nếu hẹn trong tháng 10 mà không thu xếp được tiền trả cho anh Hoàng thì những tài sản trên sẽ thuộc quyền sở hữu của anh Hoàng. Tôi sẽ ra công chứng sang tên anh Hoàng”Giao dịch của bà Hương với ông MNgày 13/1/2011, Bà Đỗ Thị Hương và ông Nguyễn Ngọc M thực hiện giao dịch Hợp đồng chuyển nhượng quyền góp vốn để được mua đất và phần vốn góp của ông Nguyễn Ngọc M với tập đoàn X. Anh M đã giao cho bà Hương giấy biên nhận tiền trị giá triệu đ và văn bản xác nhận góp vốn đứng tên ông Nguyễn Ngọc M cho bà Đỗ Thị văn bản của tập đoàn XNgày 23/02/2012, X làm việc với ông Nguyễn Ngọc Minh về việc lô đất G12 – L01 Khu A Dương Nội không đủ điều kiện chuyển nhượng, đề nghị ông M chuyển sang lựa chọn lô khác nhưng ông M không đồng ý;Ngày 18/9/2012, X có văn bản gửi bà Hương khằng định lô đất chưa đủ điều kiện chuyển nhượng, đã thông báo cho ông M nhiều lần; đồng thời X cũng khẳng định giao dịch giữa bà Hương và ông M là “không có căn cứ và vi phạm các quy định của pháp luật đất đai cũng như quy định của Tập đoàn X”;Ngày 23/12/2013 X có văn bản gửi Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an TP. Hà Nội khẳng định+ Không chấp nhận việc chuyển nhượng giữa ông M và bà Hương;+ Lô đất G12 – L01 vẫn chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng do vướng mặt bằng, dân không nhận tiền đền bù;+ X đã thông báo cho ông Minh biết lô đất không đủ điều kiện chuyển nhượng từ cuối năm 2010 thông báo bằng điện thoại;+ Quan điểm của X Lô đất G12 – L01 không đủ điều kiện chuyển nhượng, X sẽ đơn phương thanh lý vốn góp, trả lại tiền cho ông M; Tập đoàn không chấp nhận việc mua bán giữa ông M và bà 19/6/2014, Văn phòng LS Yđược X ủy quyền trả lời bà Hương, khẳng định giao dịch giữa ông M và bà Hương là không đúng pháp luật, hướng dẫn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp;Ngày 28/10/2014, X có văn bản trả lời cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP. Hà Nội thể hiện+ Ngoài Giấy xác nhận đăng ký góp vốn xây dựng hạ tầng khu đô thị mới Dương Nội ngày 19/11/2009, X và ông M chưa ký kết bất kỳ thỏa thuận nào liên quan đến lô đất G12 – L01;+ Buổi làm việc ngày 23/02/2012, X đã thỏa thuận với ông Minh về việc lô đất G12 – L01 chưa đủ điều kiện chuyển nhượng; Hai bên vẫn chưa thống nhất được ý kiến giải quyết vấn đề này;+ Tình trạng lô đất G12 – L01 tại thời điểm hiện tại Lô đất vẫn tồn tại, nhưng chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để chuyển nhượng cho khách hàng do chưa hoàn thành việc xây dựng phần văn bản trả lời của cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội Ngày 04/3/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra, công an Thành phố Hà Nội đã ra thông báo số 471, thông báo cho ông Hoàng kết quả xác minh, giải quyết tố giác tội phạm, khẳng định “bà Hương không có quyền gì với Lô đất G12 – L01 […], bà Hương không có gì để chuyển nhượng cho ông Hoàng, bà Hương phải có trách nhiệm trả lại tiền cho ông Hoàng, kèm theo lãi suất hai bên đã thỏa thuận”Quá trình giải quyết vụ án của TAND quận Hai Bà Trưng– Ngày 08/5/2014, TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý vụ án.– Ngày 06/9/2014, TAND quận Hai Bà Trưng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian mở phiên tòa dự kiến là ngày 24/9/2014.– Ngày 24/9/2014, Tòa án hoãn phiên tòa lần 1 do người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn xin vắng mặt;– Ngày 29/9/2014, Tòa án hoãn phiên tòa lần 2.– Ngày 29/10/2014, Tòa án hoãn phiên tòa lần 3 với lý do luật sư bị đơn xin hoãn để nghiên cứu hồ sơ.– Ngày 29/11/2014, Tòa án ra Thông báo số 21A/TB-TA với nội dung “Ngày 29/11/2014, Tòa án nhận được đơn khiếu nại của chị Đỗ Thị Hương và anh Phạm Hồng Kỳ. Vì vậy, cần chờ kết quả giải quyết đơn khiếu nại mới mở lại phiên tòa được. Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa sẽ được Tòa án thông báo sau.”Trong quá trình tố tụng của vụ án, bị đơn không hợp tác nhằm gây khó khăn và trở ngại cho việc tố tụng bằng các hành vi cụ thể Liên tục yêu cầu hoãn các phiên tòa, thực hiện việc khiếu nại khiếu kiện để kéo dài thời gian vụ án…III/ YÊU CẦU CỦA KHÁCH HÀNGYêu cầu Tòa án tuyên bà Đỗ Thị Hương và ông Phạm Hồng Kỳ chồng bà Hương phải trả lại số tiền 7 tỷ đồng mà ông Hoàng đã trả khi giao dịch chuyển nhượng lô đất G12-L01 tại khu đô thị mới Dương Nội và lãi suất theo quy định của pháp luật là 2. 123. 037. 500 đồng. PHẠM VI CÔNG VIỆC ĐƯỢC LUẬT SƯ HƯỚNG DẪN PHÂN CÔNG– Tiếp xúc ban đầu với khách hàng;– Kết nối khách hàng với luật sư để tiến hành làm việc;– Cùng luật sư hướng dẫn thu thập đi sao chụp tài liệu;– Cùng tham gia phiên tòa cùng luật sư hướng dẫn sau khi được thẩm phán chấp thuận;– Nghiên cứu hồ sơ, trao đổi cùng luật sư hướng dẫn về hồ sơ vụ án, chuẩn bị bài phát biểu, dự thảo luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn Tổng hợp đánh giá toàn bộ hồ sơ vụ 2PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆCI/ CĂN CỨ PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢI QUYẾT VỤ luật Tố tụng dân sựBộ luật Dân sựLuật Cư trúQuyết định 2868-QĐNHNN quy định về mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước Việt Nam có hiệu lực thi hành 01/10/2010 BẢN CHẤT VỤ VIỆC VÀ QUAN HỆ PHÁP LÝ PHẢI GIẢI QUYẾTBản chất vụ ánTại giấy chuyển nhượng ngày 28/1/2011, với các văn bản, hồ sơ giấy tờ có liên quan đến vụ án, cùng các biên bản làm việc với cơ quan điều tra công an thành phố Hà Nội. Bà Hương đều thừa nhận nhận của ông Hoàng, bà Thúy vợ ông Hoàng số tiền 7,7 tỷ đồng để chuyển nhượng lô đất G12-L01 khu đô thị Dương Nội. Sau nhiều lần hứa hẹn bà Hương không thực hiện được cam kết nêu trên. Đến ngày 13/4/2012 bà Hương đã cam kết trả lại số tiền 7,7 tỷ và lãi suất theo thỏa thuận trước đó của các bên. Như vậy trong vụ án này là vụ án Dân sự về việc yêu cầu đòi lại tài sản với số tiền 7 tỷ cả gốc và lãi cho đến thời điển xét xử vụ vấn đề cần giải Đánh giá tính hợp pháp các yêu cầu của khách hàng là nguyên đơnThứ nhất Yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự ngày 28/01/2011 của ông Hoàng và bà Hương là vô hiệuTheo văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/01/2011 do 2 bên lập, luật sư nhận thấy việc ông Nguyễn Ngọc M nộp một trăm triệu đồng tại công ty cổ phần tập đoàn X nên được công ty cấp giấy xác nhận đăng ký góp vốn đứng tên ông M. Giấy xác nhận này không thể hiện nội dung công ty X chuyển nhượng quyền sử dụng đất lô G12-L01 cho ông M, mà chỉ có ý nghĩa sau khi lô đất G12-L01 đủ điều kiện chuyển nhưởng thì ông M được quyền ưu tiên mua lô đất nêu trên. Như vậy, lô đất C12-L01 chưa thuộc quyền sử dụng của ông M, ông M đem chuyển nhượng là vi phạm cam kết với chủ đầu tư và vi phạm pháp luật. Do giao dịch ông M và bà Hương không được chủ đầu tư chấp nhận nên bà Hương không thể làm được hợp đồng để ông Hoàng được quyền ký hợp đồng với chủ đầu tư là tập đoàn X như cam kết ngày được. Nếu các bên dừng quan hệ dân sự tại thời điểm này thì quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa và Hương và ông Dư là giao dịch dân sự vô sau hơn 01 năm, vào ngày 2012 bà Hương đã viết “Giấy cam kết” có nội dung Việc chuyển nhượng giữa 2 bên không thành bà sẽ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền đã nhận cho ông Hoàng và tiền lãi suất theo ngân hàng”. Như vậy, kể từ ngày giữa bà Hương và ông Hoàng đã chuyển giao dịch từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang giao dịch xác nhận nợ với nhau. Theo đó, bà hương cam kết trả 7,7 tỷ đồng cũng lãi suất ngân hàng. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn và không trái với quy định pháp luật hiện hành. Giả sử, trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Hoàng, tuyên bố giao dịch ngày 28/01/2011 vô hiệu thì luật định, 2 bên sẽ phải trao trả những gì đã nhận. Như vậy, bà Hương chỉ phải trả số tiền gốc còn lại là 7 tỷ đồng mà không kèm theo lãi suất. Nhận thấy, đây là điểm bất lợi rất lớn của khách hàng khi không được hưởng phần lãi suất mình phải được hưởng, luật sư đã hướng dẫ khách hàng rút yêu cầu khởi kiện tuyên bố giao dịch dân sự ngày 28/01/2011 giữa ông Hoàng và bà Hương là vô hiệu ngay khi xét xử tại phiên tòa sơ thẩmThứ hai Yêu cầu về bồi thường thiệt hại do bà Hương có lỗi trong việc để cho giao dịch dân sự bị vô hiệu theo quy định của pháp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự ngày 28/01/2011 của nguyên đơn là ông Hoàng và bị đơn là bà Hương là vô hiệu, đã được luật sư đã tư vấn rút nên yêu cầu thứ 2 về bồi thường thiệt hại sẽ không có cơ sở để thực hiện. Thực tế, để chứng minh thiệt hại và yêu cầu bồi thường dân sự rất khó khả thi. Vì vậy, đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại, luật sư cũng yêu cầu khách hàng xin rút ngay khi xét xử tại phiên tòa sơ thẩmThứ ba Về yêu cầu đòi tiền nợ gốcCăn cứ hồ sơ vụ án cho thấy Giấy biên nhận tiền của bà Hương ngày 28/01/2011 thể hiện bà Hương đã nhận của ông Hoàng 7,7 tỷ đồng. Các cam kết của bà Hương, các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án cũng khẳng định số tiền bà Hương đã nhận của ông Dư là 7,7 tỷ đồng và bà Hương cam kết sẽ trả lại cho ông Hoàng, nhưng bà Hương đã không thực hiện cam kết của 21 và ngày 28/01/2014 bà Hương đã hai lần trả tiền cho ông Hoàng, lần đầu 530 triệu đồng và lần 2 là 170 triệu đồng, tổng số tiền bà Hương đã trả là 700 triệu đồng. Như vậy, tổng số tiền bà Hương còn đang chiếm giữ của ông Hoàng là 7 tỷ đồng. Căn cứ Điều 256 BLDS 2005 về quyền đòi lại tài sản “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…”Từ các căn cứ trên, ông Hoàng có quyền khởi kiện yêu cầu bà Hương phải trả lại số tiền 7 tỷ đồng đang chiếm giữ trái pháp luậtThứ tư Về yêu cầu đòi tiền lãi cứ hồ sơ vụ án cho thấy Ngày 13/4/2012, bà Hương đã lập giấy cam kết nếu hết ngày 31/5/2012 mà không ra được hợp đồng chuyển nhượng lô đất đứng tên ông Hoàng thì sẽ trả lại cho ông Hoàng toàn bộ số tiền 7,7 tỷ đồng, kèm theo lãi suất ngân hàng; thời hạn giao tiền là trong vòng 20 ngày, tức là từ ngày 01/6/2012 đến ngày 20/6/ vậy, nghĩa vụ trả tiền của bà Hương đã phát sinh từ ngày 01/6/ quy định tại Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 về Nghĩa vụ trả tiền thì “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.Giữa ông Hoàng và bà Hương không có thỏa thuận nào về việc bà Hương không phải trả lãi; bản thân bà Hương cũng đã cam kết sẽ trả cả tiền nợ gốc là 7,7 tỷ đồng và tiền lãi cho ông Hoàng. Như vậy, nghĩa vụ trả tiền lãi cho ông Hoàng theo cam kết của bà Hương phát sinh cùng thời điểm với nghĩa vụ trả tiền là ngày 01/6/ hồ sơ, giấy biên nhận ngày 13/4/2012 bà Hương không cam kết mức lãi suất cụ thể mà bà Hương phải trả cho ông Hoàng mà chỉ nêu chung chung là “kèm theo lãi suất ngân hàng” nên cần xác định lãi suất bà Hương phải trả dựa trên mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công thời hạn cam kết trả tiền ngày 20/6/2012, bà Hương vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Hoàng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 305 BLDS về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì“…bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Ông Hoàng và bà Hương cũng không có thỏa thuận nào về việc bà Hương không phải trả phần lãi chậm thanh toán này. Như vậy bà Hương có nghĩa vụ phải trả lãi chậm trả cho ông 1 Quyết định 2686/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010 quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/ các lập luận nêu trên, có căn cứ xác định bà Hương phải trả tiền lãi theo cam kết và tiền lãi chậm trả cho ông Hoàng với mức lãi suất là 9%/ Xác định thẩm quyền xét xử vụ ánCăn cứ vào quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự tại Điều 35 về thẩm quyền tòa án theo lãnh thổ Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm điều 8 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP của HĐTP TANDTC hướng dẫn điều 35 Luật Tố tụng Dân sự thì Việc xác định nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở quy định tại Điều 35 của BLTTDS được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi cứ Điều 52 Bộ Luật Dân sự quy định về nơi cư trú“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh cứ Điều 12 Luật Cư trú hiện hành quy định về nơi cư trúNơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.”Căn cứ vào các loại văn bản, giấy tờ Bị đơn cung cấp cho Nguyên đơn từ khi xác lập giao dịch cho đến ngày nguyên đơn khởi kiện đều thể hiện bị đơn thường trú tại số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thể hiện trong– Giấy chuyển nhượng lô đất được hai bên xác lập ngày 28/01/2011;– Giấy biên nhận tiền bị đơn viết ngày 28/01/2011;– Giấy biên nhân bị đơn viết ngày 13/4/2012 cam kết không ra được hợp đồng sẽ trả lại nguyên đơn tiền và lãi suất;– Giấy cam kết do bị đơn viết ngày 13/3/2013 hứa thu xếp trả tiền;– Giấy cam kết bị đơn viết ngày 03/5/2013 về việc trả tiềnCăn cứ vào các văn bản giải quyết của các tổ chức liên quan, cụ thể– Văn bản trả lời số 471 ngày 04/3/2014 của Công an Hà Nội trả lời nguyên đơn Lê Đức Dư về kết quả xác minh, tố giác tội phạm đã xác định Đỗ Thị Hương có hộ khẩu thường trú tại số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.– Văn bản số 25/VPLSVD ngày 19/6/2014 của Văn phòng luật sư Y đại diện ủy quyền cho chủ đầu tư Tập đoàn X trả lời bà Hương về lô đất G12-L01 cũng thể hiện bà Hương trú tại số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.– Văn bản số 206/2015/CV – NCHN ngày 27/8/2015 của Tập đoàn Nam Cường gửi Tòa án quận Hai Bà Trưng vẫn khẳng định bà Hương có địa chỉ tại số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà cứ các đơn từ của bị đơn Hương khi làm việc với Tòa án, công an thành phố đều khẳng định hộ khẩu thường trú là số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà cứ văn bản xác nhận ngày 02/12/2015 của Công an phường Thanh Nhàn quận Hai Bà Trưng khẳng định hiện nay bị đơn Đỗ Thị Hương vẫn đang đăng ký thường trú tại địa chỉ số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà các cơ sở trên khẳng định rằng Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng có thẩm quyền giải quyết trong vụ án Đánh giá những yêu cầu của bị đơnBị đơn yêu cầu Nguyên đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng và đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc M và Tập đoàn X trong vụ là không có cơ sở bởi các lẽ sauThứ nhất Về yêu cầu thực hiện hợp đồngCăn cứ vào giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/01/2011 do 2 bên lập, ta nhận thấy việc ông Nguyễn Ngọc M nộp một trăm triệu đồng tại công ty cổ phần tập đoàn X nên được công ty cấp giấy xác nhận đăng ký góp vốn đứng tên ông. Giấy xác nhận này không thể hiện nội dung công ty X chuyển nhượng quyền sử dụng đất lô G12-L01 cho ông M, mà chỉ có ý nghĩa sau khi lô đất G12-L01 đủ điều kiện chuyển nhượng thì ông M được quyền ưu tiên mua lô đất nêu trên. Như vậy, lô đất C12-L01 chưa thuộc quyền sử dụng của ông M, ông M đem chuyển nhượng là vi phạm cam kết với chủ đầu tư và vi phạm pháp luật. Do giao dịch ông M và bà Hương không được chủ đầu tư chấp nhận nên bà Hương không thể làm được hợp đồng để ông Hoàng được quyền ký hợp đồng với chủ đầu tư là tập đoàn X như cam kết ngày được. Nếu các bên dừng quan hệ dân sự tại thời điểm này thì quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa và Hương và ông Hoàng là giao dịch dân sự vô hiệu. Nhưng sau hơn 01 năm, vào ngày 2012 bà Hương đã viết “Giấy cam kết” có nội dung Việc chuyển nhượng giữa 2 bên không thành bà sẽ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền đã nhận cho ông Hoàng và tiền lãi suất theo ngân hàng”. Như vậy, kể từ ngày giữa bà Hương và ông Hoàng đã chuyển giao dịch từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang giao dịch xác nhận nợ với nhau. Theo đó, bà hương cam kết trả 7,7 tỷ đồng cũng lãi suất ngân hàng. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn và không trái với quy định pháp luật hiện hành, vì vậy, yêu cầu thực hiện hợp đồng là hoàn toàn không có cơ hai Về yêu cầu đưa ông Nguyễn Ngọc M và Tập đoàn X trong vụ ánNgày giữa ông Nguyễn Ngọc M và bà Đỗ Thị Hương đã làm hợp đồng chuyển nhượng “chuyển nhượng quyền góp vốn để được mua đất và phần vốn góp có nội dung “Ông Minh chuyển nhượng cho lại quyền góp vốn vào phần vốn góp để được mua lô đất C12-L01 tại khu A khu đô thị Dương Nội do tập đoàn X là chủ đầu tư cho bà Hương”. Hợp đồng do ông M và bà Hương tự lập với nhau không có xác nhận của tập đoàn X là chủ đầu đó, ngày bà Hương làm “Giấy nhượng quyền sử dụng lô đất” đối với quyền được mua lô đất G12-L01 khu đô thị mới Dương Nội cho ông Hoàng. Giấy này viết tay do 2 người tự ký, không có chữ ký của ông M và cũng không có xác nhận của chủ đầu tư là tập đoàn X. Trong các lời khai bà Hương và ông Hoàng đều thừa nhận ông M không biết và không liên quan đến việc bà Hương lập hợp đồng chuyển nhượng lô đất đã mua của ông Minh cho ông Hoàng, ông M cũng không liên quan đến việc bà Hương nhận số tiền 7,7 tỷ những cơ sở trên có thể khẳng định rằng Không có cơ sở pháp lý để Ông Nguyễn Ngọc M và tập đoàn X phải có trách nhiệm đối với giao dịch giữa ông Hoàng và bà Hương và họ không có tư cách để tham gia vụ án Đánh giá sự tuân thủ pháp luật của tòa án Hai Bà Trưng trong quá trình giải quyết vụ nhất Vi phạm về việc kéo dài thời gian hõa phiên tòaTrong quá trình giải quyết vụ kiện nêu trên, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội vi phạm nghiêm trọng về việc kéo dài thời gian hoãn phiên tòa. Kể từ thời điểm thụ lý ngày 08/5/2014 cho đến ngày xét xử ngày 10/9/2015 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã 3 lần tạm hoãn phiên tòa thể hiện qua các quyết định Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2014/QĐST-DS ngày 24/9/2014 lần 1 Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2014/QĐST-DS ngày 29/9/2014 lần 2, Quyết định hõa phiên toàn số 75/2014/QĐST-DS ngày 29/10/2014 lần 3Từ quyết định hõa phiên tòa số 75/2014/QĐST-DS ngày 29/10/2014 lần 3 kéo dài cho đến ngày 21/8/2015 mới quyết định mở lại phiên tòa số 08; Tiếp tục đến ngày 25/8/2015 mới có quyết định mở lại phiên tòa số 09. Thời gian hoãn phiên tòa lần 3 cho đến thời điểm mở lại phiên tòa ngày 25/8/2015 là gần 10 cứ Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 thì thời hạn được hoãn phiên toàn không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòaCăn cứ Điều 29, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thi hành một số quy định trong phần thứ 2 “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự về Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa quy định tại Điều 208 của BLTTDS như sau“1. Thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên phiên toà xét xử một vụ án bị hoãn nhiều lần, thì thời hạn của mỗi lần hoãn phiên toà không được quá giới hạn cho phép là ba mươi ngày, kể từ ngày Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà của lần đó”.Căn cứ vào các quy định nêu trên của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn cho thấy Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã kéo dài thời gian hoãn phiên toàn lên đến 10 2 Thông báo số 21A/TB-TA của Tòa án nhân Thông báo số 21A/TB-TA ngày 29/11/2014 của Tòa án về việc lùi ngày mở phiên tòa là trái nội dung thông báo “ Ngày 29/11/2014 Tòa án nhận được Đơn khiếu nại của chị Đỗ Thị Hương và anh Phạm Hồng Kỳ. Vì vậy, cần chờ kết quả giải quyết khiếu nại mới mở lại phiên tòa được. Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa sẽ được Tòa án thông báo sau”. Việc tạm hoãn xét xử trong thông báo này không có căn cứ. Không có cơ sở nào trong luật quy định phải giải quyết khiếu nại xong mới tiếp tục giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án và giải quyết khiếu nại diễn ra độc lập, không liên quan đến vậy, việc Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng cố tình trì hõa phiên tòa bằng cách kéo dài thời gian để hoãn cùng với Thông báo số 21A/TB-TA ngày 29/11/2014 của Tòa án về việc lùi ngày mở phiên tòa là trái luật, phương hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích khách các căn cứ nêu trên, Ông Lê Hoàng yêu cầu bà Đỗ Thị Hương cùng chồng là Phạm Hồng kỳ phải trả lại số tiền cho ông Hoàng là 7 tỷ đồng cộng lãi suất theo quy định của ngân hàng nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho khách QUAN ĐIỂM BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO ĐƯƠNG SỰCơ sở xác định quyền khởi kiện, quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự, Quyền đòi nợ gốc, quyền đòi lãi của ông khởi kiện+ Điều 255 Bộ luật dân sự quy định về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu như sau “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”+ Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về quyền khởi kiện vụ án “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án sau đây gọi chung là người khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”+ Điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thời hiệu khởi kiện “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện;”Quyền rút một phần yêu cầu khởi kiện Căn cứ theo Khoản b, Điều 59, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011“1. Nguyên đơn có các quyền, nghĩa vụ sau đâya ….b Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện;”Căn cứ Khoản 2, Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011 thì “Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”.Như vậy, việc ông Dư, phía nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn có căn cứ, yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận đối với 2 nội dung xin rút của nguyên đơn là Xin tuyên bố giao dịch vô hiệu và bồi thường thiệt yêu cầu đòi tiền gốc của nguyên đơnGiấy biên nhận tiền của bà Hương ngày 28/01/2011 thể hiện bà Hương đã nhận của ông Dư 7,7 tỷ đồng. Các cam kết của bà Hương, các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án cũng khẳng định số tiền bà Hương đã nhận của ông Hoàng là 7,7 tỷ đồng và bà Hương cam kết sẽ trả lại cho ông Hoàng, nhưng bà Hương đã không thực hiện cam kết của 21 và ngày 28/01/2014 bà Hương đã hai lần trả tiền cho ông Hoàng, lần đầu 530 tr và lần 2 170tr, tổng số tiền bà Hương đã trả là 700 triệu đồng. Như vậy, tổng số tiền bà Hương còn đang chiếm giữ của ông Hoàng là 7 tỷ đồng. Căn cứ Điều 256 BLDS 2005 về quyền đòi lại tài sản “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…”Như vậy, ông Dư có quyền yêu cầu và bà Hương có nghĩa vụ phải trả lại cho ông Hoàng số tiền gốc 7 tỷ đòi tiền lãi của nguyên đơnSau khi nhận đủ số tiền 7,7 tỷ đồng của ông Hoàng, bà Hương đã không thực hiện được các nghĩa vụ mình cam kết là hoàn thiện thủ tục để ra được hợp đồng chuyển nhượng lô đất G12-L01 giữa ông Hoàng và tập đoàn 13/4/2012, bà Hương đã lập giấy cam kết khẳng định nếu hết ngày 31/5/2012 mà không ra được hợp đồng chuyển nhượng lô đất đứng tên ông Hoàng thì sẽ trả lại cho ông Dư toàn bộ số tiền 7,7 tỷ đồng, kèm theo lãi suất ngân hàng; thời hạn giao tiền là trong vòng 20 ngày, tức là từ ngày 01/6/2012 đến ngày 20/6/ quy định tại Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 về Nghĩa vụ trả tiền thì “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.Hết thời hạn cam kết trả tiền ngày 20/6/2012, bà Hương vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Dư. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 305 BLDS về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì“…bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.Ông Hoàng và bà Hương cũng không có thỏa thuận nào về việc bà Hương không phải trả phần lãi chậm thanh toán này. Như vậy bà Hương có nghĩa vụ phải trả lãi chậm trả cho ông 1 Quyết định 2686/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010 quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/ đó, có căn cứ xác định bà Hương phải trả tiền lãi theo cam kết và tiền lãi chậm trả cho ông Hoàng với mức lãi suất là 9%/ chấp nhận các yêu cầu của bị đơn cụ thểThứ nhất Đưa ông M và công ty X tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Việc bà Hương yêu cầu đưa đưa ông M và Tập đoàn X vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ bởiTheo quy định tại khoản 3 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự, “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”Như vậy, theo quy định trên thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải là người mà việc giải quyết vụ án khiến cho họ được hưởng quyền lợi hoặc họ phải thực hiện nghĩa hai Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng của bà Hương– Các văn bản trả lời của Tập đoàn X đều khẳng định đến thời điểm này, Lô đất G12-L01 chưa đủ điều kiện chuyển nhượng. Do đó, bà Hương không thể thực hiện được cam kết là ra được hợp đồng chuyển nhượng lô đất G12-L01 đứng tên ông Nguyễn Ngọc Minh để sang tên cho ông Hoàng.– Các bên chưa có bất cứ một thỏa thuận nào về việc ông Hoàng sẽ lấy một lô đất khác trong dự án Khu đô thị Dương Nội để thay thế cho Lô đất G12-L01.– Bà Hương đã cam kết tại Giấy biên nhận ngày 13/4/2012 Đến ngày 31/5/2012 sẽ ra được hợp đồng cho ông Hoàng. Nếu hết thời hạn trên sẽ trả lại tiền cho ông Hoàng. Trên thực tế, đến thời điểm hiện tại bà Hương vẫn chưa thực hiện được bất cứ thủ tục gì để có Hợp đồng góp vốn hoặc Hợp đồng mua bán đất với Tập đoàn X đứng tên ông M để sang tên cho ông Hoàng. Do đó, bà Hương có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng cam kết ngày 13/4/2012 là trả lại tiền cho ông Hoàng, cùng với tiền lãi theo lãi suất ngân hàng.– Sau bản cam kết ngày 13/4/2012, hai bên không có bất cứ một sự thỏa thuận nào khác về việc nhận đất mà chỉ có cam kết của bà Hương và được ông Hoàng chấp nhận về việc bà Hương sẽ trả lại tiền cho ông vậy, không có căn cứ để bà Hương buộc ông Hoàng phải nhận đất, căn cứ Giấy cam kết ngày 13/3/2013 và Giấy cam kết ngày 03/5/2013 thể hiện bà Hương đã không thực hiện được việc ra hợp đồng mua bán đất cho ông Hoàng và bà Hương đã có nghĩa vụ trả lại tiền cho ông Hoàng cùng với tiền lãi theo lãi suất ngân hàng. Thực tế, bà Hương cũng đã trả được 1 phần tiền là bẩy trăm triệu đồng chẵn vào tháng 1 năm thẩm quyền tòa án Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng có thẩm quyền giải quyết trong vụ án này Căn cứ vào quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự tại quy định cụ thể tại Điều 35 về thẩm quyền tòa án theo lãnh thổ Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm điều 8 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP của HĐTP TANDTC hướng dẫn điều 35 Luật Tố tụng Dân sự thì Việc xác định nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở quy định tại Điều 35 của BLTTDS được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi cứ Điều 52 Bộ Luật Dân sự quy định về nơi cư trú“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh cứ Điều 12 Luật Cư trú hiện hành quy định về nơi cư trúNơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.”Căn cứ vào các loại văn bản, giấy tờ Bị đơn cung cấp cho Nguyên đơn từ khi xác lập giao dịch cho đến ngày nguyên đơn khởi kiện đều thể hiện bị đơn thường trú tại số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thể hiện trong– Giấy chuyển nhượng lô đất được hai bên xác lập ngày 28/01/2011;– Giấy biên nhận tiền bị đơn viết ngày 28/01/2011;– Giấy biên nhân bị đơn viết ngày 13/4/2012 cam kết không ra được hợp đồng sẽ trả lại nguyên đơn tiền và lãi suất;– Giấy cam kết do bị đơn viết ngày 13/3/2013 hứa thu xếp trả tiền;– Giấy cam kết bị đơn viết ngày 03/5/2013 về việc trả tiềnCăn cứ vào các văn bản giải quyết của các tổ chức liên quan, cụ thể– Văn bản trả lời số 471 ngày 04/3/2014 của Công an Hà Nội trả lời nguyên đơn Lê Hoàng về kết quả xác minh, tố giác tội phạm đã xác định Đỗ Thị Hương có hộ khẩu thường trú tại số …, ngách …, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.– Văn bản số 25/VPLSVD ngày 19/6/2014 của Văn phòng luật sư Y đại diện ủy quyền cho chủ đầu tư Tập đoàn X trả lời bà Hương về lô đất G12-L01 cũng thể hiện bà Hương trú tại số …, ngách…, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.– Văn bản số 206/2015/CV – NCHN ngày 27/8/2015 của Tập đoàn X gửi Tòa án quận Hai Bà Trưng vẫn khẳng định bà Hương có địa chỉ tại số .. ngách … , quận Hai Bà Trưng, Hà cứ các đơn từ của bị đơn Hương khi làm việc với Tòa án, công an thành phố đều khẳng định hộ khẩu thường trú là …, ngách…, quận Hai Bà Trưng, Hà cứ văn bản xác nhận ngày 02/12/2015 của Công an phường Thanh Nhàn quận Hai Bà Trưng khẳng định hiện nay bị đơn Đỗ Thị Hương vẫn đang đăng ký thường trú tại địa chỉ …, ngách …, quận Hai Bà Trưng, Hà vậy một lần nữa có thể khẳng định Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng có thẩm quyền giải quyết trong vụ án sự vi phạm về thời hạn tố tụng của tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng các quyết định hoãn phiên tòaVới các quyết định hõa phiên tòa số 67/2014/QĐST-DS ngày 24/9/2014 lần1 Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2014/QĐST-DS ngày 29/9/2014 lần 2, Quyết định hõa phiên toàn số 75/2014/QĐST-DS ngày 29/10/2014 lần 3 với thời gian gần 10 tháng, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã bi phạm nghiêm trọng về thời giạn tố Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 thì thời hạn được hoãn phiên toàn không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòaCũng theo Điều 29, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thi hành một số quy định trong phần thứ 2 “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự về Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa quy định tại Điều 208 của BLTTDS như sau“1. Thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên phiên toà xét xử một vụ án bị hoãn nhiều lần, thì thời hạn của mỗi lần hoãn phiên toà không được quá giới hạn cho phép là ba mươi ngày, kể từ ngày Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà của lần đó”.Căn cứ vào các quy định nêu trên của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn cho thấy Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã kéo dài thời gian hoãn phiên toàn lên đến 10 tháng. Thông báo số 21A/TB-TA của Tòa án nhân Thông báo số 21A/TB-TA ngày 29/11/2014 của Tòa án về việc lùi ngày mở phiên tòa là trái nội dung thông báo “ Ngày 29/11/2014 Tòa án nhận được Đơn khiếu nại của chị Đỗ Thị Hương và anh Phạm Hồng Kỳ. Vì vậy, cần chờ kết quả giải quyết khiếu nại mới mở lại phiên tòa được. Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa sẽ được Tòa án thông báo sau”. Việc tạm hoãn xét xử trong thông báo này không có căn cứ. Không có cơ sở nào trong luật quy định phải giải quyết khiếu nại xong mới tiếp tục giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án và giải quyết khiếu nại diễn ra độc lập, không liên quan đến vậy, mặc dù thời hạn chuẩn bị xét xử không vi phạm về mặt tố tụng, tuy nhiên, việc hoãn thêm phiên tòa kéo dài thời gian gần 10 tháng cùng với việc thừa nhân Thông báo số 21A/TB-TA ngày 29/11/2014 của Tòa án về việc lùi ngày mở phiên tòa đã vi phạm nghiêm trọng về thời hạn được hõan phiên tòa, về tính độc lập khi giải quyết khiếu nại của đương sự theo đúng quy định của pháp luậtPHẦN 3KẾT QUẢ THỰC HIỆN VỤ VIỆCNỘI DUNG CÔNG VIỆC THỰC HIỆN THEO SỰ PHÂN CÔNG CỦA LUẬT SƯ HƯỚNG DẪNLuận cứ bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn tại phiên phiên tòa sơ thẩm TAND Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Luật sư Đào Thị Liên-Giám đốc điều hành công ty Luật Tiền Phong đã đưa ra luận cứ bảo vệ cho nguyên đơn ông Lê Đức Dư như sau Kính thưa Hội đồng xét xử!Tôi, Nguyễn Văn C, Công ty Luật B thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, tham gia vụ án với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Hoàng -nguyên đơn trong vụ kiện dân sự “Đòi tiền” với bị đơn là bà Đỗ Thị cứ hồ sơ vụ án cũng như những thông tin, tài liệu mà hai bên cung cấp, trên cơ sở lời trình bày của hai bên tại phiên tòa hôm nay, tôi xin có ý kiên pháp lý giải quyết vụ kiện này cụ thể như sau Về quyền khởi kiện của nguyên đơnĐiều 255 Bộ luật dân sự 2005 quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu như sau “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”Căn cứ hồ sơ vụ kiện cho thấyNgày 28/01/2011, bà Hương đã viết Giấy nhượng quyền sử dụng đất lô đất G12-L01 Khu A Dương Nội cho ông Hoàng và nhận của ông Dư 7,7 tỷ đồng có Giấy biên nhận tiền. Sau đó, bà Hương không thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết là hoàn thiện các thủ tục để ông Dư được ký hợp đồng với chủ đầu tư là Tập đoàn X.+ Ngày 13/4/2012, bà Hương ghi giấy biên nhận, cam kết nếu hết ngày 31/5/2012, bà Hương không ra được hợp đồng đứng tên ông Hoàng, trong vòng 20 ngày từ ngày 31/5/2012 bà Hương sẽ trả lại toàn bộ số tiền 7,7 tỷ đồng kèm theo lãi suất ngân đó bà Hương cũng không thực hiện được cam kết này.+ Ngày 13/3/2013, bà Hương tự nguyện giao cho ông Hoàng một số giấy tờ tài sản của bà Hương, cam kết nếu đến hết tháng 10/2013 mà không “giải quyết xong” về lô đất G12-L01 thì những tài sản trên sẽ thuộc quyền sở hữu của ông Hoàng;Hết hạn này bà Hương cũng không thực hiện các cam kết của mình.+ Ngày 03/5/2013, bà Hương tiếp tục viết Giấy cam kết lần thứ 3 xin hẹn đến cuối tháng 9/2013 sẽ trả lại cho ông Dư 7,7 tỷ đồng nhưng sau đó cũng không thực cứ điều 255 BLDS 2005, căn cứ các giấy tờ bà Hương xác lập có thể khẳng định Bà Hương có nghĩa vụ trả ông Hoàng số tiền 7,7 tỷ đồng và lãi suất, vì bà Hương không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nên ông Hoàng có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết để buộc bà Hương phải thực hiện những nghĩa vụ trả tiền này. Về thời hiệu khởi kiện– Đối với khoản tiền gốc Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.– Đối với yêu cầu đòi tiền lãi trên tổng số tiền bà Hương đã chiếm giữ của ông Hoàng căn cứ thời điểm bà Hương lập Giấy biên nhận là ngày 13/4/2012 có nội dung hẹn đến hết ngày 31/5/2011, nếu bà Hương không ra được hợp đồng đứng tên ông Hoàng, bà Hương sẽ trả tiền gốc kèm theo lãi suất ngân hàng. Nhưng sau đó bà Hương không thực hiện được nên thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền lãi là từ ngày 01/6/ vậy, thời hiệu khởi kiện đòi tiền lãi của ông Hoàng được tính từ ngày phát sinh nghĩa vụ là ngày 01/6/2012; thời điểm ông Hoàng khởi kiện bà Hương ra TAND quận Hai Bà Trưng là tháng 3/2014, thời điểm tòa án thụ lý là ngày 08/5/2014, vẫn trong thời hạn 2 năm theo quy định về thời hiệu tại Điều 159 vậy, có căn cứ khẳng định các yêu cầu đòi tiền cả gốc và lãi của ông Hoàng là không vi phạm pháp luật về thời hiệu khởi kiện. Về thẩm quyền tòa ánCăn cứ vào quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự tại Điều 35 về thẩm quyền tòa án theo lãnh thổ Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm điều 8 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP của HĐTP TANDTC hướng dẫn điều 35 Luật Tố tụng Dân sự thì Việc xác định nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở quy định tại Điều 35 của BLTTDS được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi cứ Điều 52 Bộ Luật Dân sự quy định về nơi cư trú“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh cứ Điều 12 Luật Cư trú hiện hành quy định về nơi cư trúNơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.”Căn cứ vào các loại văn bản, giấy tờ Bị đơn cung cấp cho Nguyên đơn từ khi xác lập giao dịch cho đến ngày nguyên đơn khởi kiện đều thể hiện bị đơn thường trú tại .., ngách…, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thể hiện trong– Giấy chuyển nhượng lô đất được hai bên xác lập ngày 28/01/2011;– Giấy biên nhận tiền bị đơn viết ngày 28/01/2011;– Giấy biên nhân bị đơn viết ngày 13/4/2012 cam kết không ra được hợp đồng sẽ trả lại nguyên đơn tiền và lãi suất;– Giấy cam kết do bị đơn viết ngày 13/3/2013 hứa thu xếp trả tiền;– Giấy cam kết bị đơn viết ngày 03/5/2013 về việc trả tiềnCăn cứ vào các văn bản giải quyết của các tổ chức liên quan, cụ thể– Văn bản trả lời số 471 ngày 04/3/2014 của Công an Hà Nội trả lời nguyên đơn Lê Đức Dư về kết quả xác minh, tố giác tội phạm đã xác định Đỗ Thị Hương có hộ khẩu thường trú tại .., ngách …, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.– Văn bản số 25/VPLSVD ngày 19/6/2014 của Văn phòng luật sư Vì Dân đại diện ủy quyền cho chủ đầu tư Tập đoàn Nam Cường trả lời bà Hương về lô đất G12-L01 cũng thể hiện bà Hương trú tại số 18, ngách 102/1 Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.– Văn bản số 206/2015/CV – NCHN ngày 27/8/2015 của Tập đoàn X gửi Tòa án quận Hai Bà Trưng vẫn khẳng định bà Hương có địa chỉ tại .., ngách …, quận Hai Bà Trưng, Hà cứ các đơn từ của bị đơn Hương khi làm việc với Tòa án, công an thành phố đều khẳng định hộ khẩu thường trú là .., ngách …, quận Hai Bà Trưng, Hà cứ văn bản xác nhận ngày 02/12/2015 của Công an phường Thanh Nhàn quận Hai Bà Trưng khẳng định hiện nay bị đơn Đỗ Thị Hương vẫn đang đăng ký thường trú tại địa chỉ …, ngách…, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Về quyền rút một phần yêu cầu của Nguyên đơnTại đơn khởi kiện đề ngày 1/3/2014, ông Hoàng đã yêu cầu tòa án 4 nội dungTuyên giao dịch vô hiệuYêu cầu bà Hương trả lại tiền 7 tỷ và lãi suất theo quy định của ngân hàng nhà nướcBồi thường thiệt hạiÁp dụng biện pháp khẩn cấp tạm phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu, cụ thểRút yêu cầu tòa án Tuyên giao dịch vô hiệuRút yêu cầu Bồi thường thiệt cầu còn lại là– yêu cầu tòa án tuyên bà Hương phải trả lại tài sản là tiền 7 tỷ đồng đã chiếm giữ từ ngày 28/1/2011 và lãi suất theo cam kết của bà Hương.– Điều 59 LTTDS quy định nguyên đơn có quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa hôm nay, Chủ tọa phiên tòa cũng đã giải thích quyền này một cách công khai– Điều 218 BLTTDS quy định “trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”.Như vậy, ông Dư được pháp luật bảo hộ quyền chủ động trong việc rút bớt yêu cầu khởi kiện cho phù hợp. Luật Tố tụng Dân sự đã quy định, tôi đề nghị HĐXX chấp nhận đình chỉ những nội dung yêu cầu bị Nguyên đơn rút theo đúng quy định. Về nghĩa vụ trả tiền nợ gốc của bị đơnGiấy biên nhận tiền của bà Hương ngày 28/01/2011 thể hiện bà Hương đã nhận của ông Dư 7,7 tỷ đồng. Các cam kết của bà Hương, các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án cũng khẳng định số tiền bà Hương đã nhận của ông Dư là 7,7 tỷ đồng và bà Hương cam kết sẽ trả lại cho ông Hoàng, nhưng bà Hương đã không thực hiện cam kết của 21 và ngày 28/01/2014 bà Hương đã hai lần trả tiền cho ông Dư, lần đầu 530 tr và lần 2 là 170tr, tổng số tiền bà Hương đã trả là 700 triệu đồng. Như vậy, tổng số tiền bà Hương còn đang chiếm giữ của ông Hoàng là 7 tỷ đồng. Căn cứ Điều 256 BLDS 2005 về quyền đòi lại tài sản “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…”Như vậy, ông Dư có quyền yêu cầu và bà Hương có nghĩa vụ phải trả lại cho ông Hoàng số tiền gốc 7 tỷ đồng. Về nghĩa vụ trả tiền lãi của Bị đơnSau khi nhận đủ số tiền 7,7 tỷ đồng của ông Hoàng, bà Hương đã không thực hiện được các nghĩa vụ mình cam kết là hoàn thiện thủ tục để ra được hợp đồng chuyển nhượng lô đất G12-L01 giữa ôngHoàng và tập đoàn 13/4/2012, bà Hương đã lập giấy cam kết khẳng định nếu hết ngày 31/5/2012 mà không ra được hợp đồng chuyển nhượng lô đất đứng tên ông Hoàng thì sẽ trả lại cho ông Dư toàn bộ số tiền 7,7 tỷ đồng, kèm theo lãi suất ngân hàng; thời hạn giao tiền là trong vòng 20 ngày, tức là từ ngày 01/6/2012 đến ngày 20/6/ vậy, nghĩa vụ trả tiền của bà Hương đã phát sinh từ ngày 01/6/ quy định tại Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 về Nghĩa vụ trả tiền thì “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.Giữa ông Hoàng và bà Hương không có thỏa thuận nào về việc bà Hương không phải trả lãi; bản thân bà Hương cũng đã cam kết sẽ trả cả tiền nợ gốc là 7,7 tỷ đồng và tiền lãi cho ông Dư. Như vậy, nghĩa vụ trả tiền lãi cho ông Hoàng theo cam kết của bà Hương phát sinh cùng thời điểm với nghĩa vụ trả tiền là ngày 01/6/ tại Giấy biên nhận ngày 13/4/2012 bà Hương không cam kết mức lãi suất cụ thể mà bà Hương phải trả cho ông Dư mà chỉ nêu chung chung là “kèm theo lãi suất ngân hàng” nên cần xác định lãi suất bà Hương phải trả dựa trên mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công thời hạn cam kết trả tiền ngày 20/6/2012, bà Hương vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Hoàng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 305 BLDS về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì“…bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Ông Hoàng và bà Hương cũng không có thỏa thuận nào về việc bà Hương không phải trả phần lãi chậm thanh toán này. Như vậy bà Hương có nghĩa vụ phải trả lãi chậm trả cho ông 1 Quyết định 2686/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010 quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/ đó, có căn cứ xác định bà Hương phải trả tiền lãi theo cam kết và tiền lãi chậm trả cho ông Hoàng với mức lãi suất là 9%/ hồ sơ vụ án cho thấy– Nghĩa vụ trả lãi theo cam kết của bà Hương phát sinh từ ngày 01/6/2012 theo Giấy biên nhận ngày 13/4/2012, thời hạn trả là ngày 20/6/2012. Tuy nhiên, sau đó bà Hương đã có Giấy cam kết ngày 13/3/2013 và Giấy cam kết ngày 03/5/2013, cam kết thời hạn trả tiền cho ông Hoàng là cuối tháng 9/2013, ông Hoàng cũng không phản đối. Như vậy, có căn cứ để xác định rằng các bên đã thống nhất lại với nhau về thời hạn trả tiền là cuối tháng 9/2013; bà Hương phải trả lãi theo cam kết cho ông Hoàng từ ngày 01/6/2012 đến ngày 30/9/ thời hạn đã cam kết bà Hương vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, do đó bà Hương phải trả lãi chậm trả cho ông Hoàng từ ngày 01/10/ 27/01/2014 bà Hương trả cho ông Hoàng được 700 triệu đồng tiền nợ vậy, số tiền lãi theo cam kết và lãi chậm thanh toán tính trên số tiền 7,7 tỷ đồng được tính từ ngày 21/06/2012 đến ngày 21/01/2014 là 19 tháng số tiền gốc là 7,7 tỷ đồng;Số lãi chậm thanh toán sẽ là19 tháng x 7,7 tỷ x 0,75%/tháng = đồngTừ ngày 22/01/2014 đến ngày 27/01/2014 là 5 ngày, tiền gốc là tỷ đồng; đồng x 0,025%/ngày x 5 ngày = 500 đồngTừ ngày 29/01/2014 đến ngày 10/9/2015 là 19 tháng 11 ngày, tiền gốc là tỷ đồng. đồng x x 19 tháng + đồng + 0,025%/ngày x 11 ngày = đồngTổng lãi phải trả sẽ là đồngVề việc bị đơn bà Đỗ Thị Hương yêu cầu đưa ông Nguyễn Ngọc M và Tập đoàn X vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanKhông thể đưa ông M và Tập đoàn X vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bởi những lẽ sauTheo quy định tại khoản 3 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự, “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”Như vậy, theo quy định trên thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải là người mà việc giải quyết vụ án khiến cho họ được hưởng quyền lợi hoặc họ phải thực hiện nghĩa trở lại vụ án, việc bà Hương trả lại tiền cho ông Hoàng không làm phát sinh bất cứ quyền hay nghĩa vụ nào của ông Minh cũng như Tập đoàn Nam Cường. Vì vậy, yêu cầu của bị đơn đưa ông Nguyễn Ngọc M và Tập đoàn X vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có căn vào đó, tranh chấp giữa ông Hoàng và bà Hương là tranh chấp “kiện đòi tài sản”, hoàn toàn không liên quan tới ông M người có quyền ưu tiên mua lô đất hay Tập đoàn X Chủ đầu tư, cụ thể+ Ông M không có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì bà Hương là người nhận tiền của ông Hoàng, cũng là người đã thừa nhận nghĩa vụ trả tiền cho ông Hoàng; khi ông Hoàng giao tiền cho bà Hương ông M không hề có mặt ở đó, cũng không nhận tiền từ ông Hoàng. Hơn nữa, theo nội dung Giấy biên nhận tiền của ông M thì ông M đã nhận tiền của bà Hương từ ngày 13/01/2011; trong khi đến ngày 28/01/2011 ông Hoàng mới giao tiền cho bà Hương; vậy phía bị đơn căn cứ vào đâu để khẳng định rằng bà Hương đã đưa số tiền 7 tỷ đồng của ông Hoàng cho ông M?!+ Tập đoàn X cũng không liên quan đến vụ án vì như đã phân tích ở trên, đây đơn thuần là tranh chấp “đòi tiền” giữa ông Hoàng và bà Hương. Tập đoàn X không nhận tiền của ông Hoàng hay bà Hương, việc bà Hương trả lại tiền cho ông Hoàng theo như nội dung bà Hương đã cam kết không liên quan gì đến quyền và nghĩa vụ của Tập đoàn nghịTừ lập luận trên, căn cứ các quy định của pháp luật có liên quan, căn cứ hồ sơ vụ án, kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn Lê Hoàng, buộc bà Đỗ Thị Hương phải trả lại ông Hoàng số tiền gốc 7 tỷ đồng và số tiền lãi tính đến thời điểm xét xử là 2. 123. 037. 500 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi bà Hương phải trả cho ông Hoàng tính đến thời điểm xét xử là đồng. Chín tỷ một trăm hai ba triệu không trăm ba bẩy nghìn năm trăm đồng Ngoài ra, kính đề nghị Tòa án tuyên buộc bà Đỗ Thị Hương còn phải trả lãi cho ông Hoàng trong thời gian thi hành án theo lãi suất quy định của Ngân hàng Nhà tin tưởng vào sự công bằng, khách quan, tuân thủ pháp luật của HĐXX để ra một bản án đúng pháp luật, phù hợp với sự thật khách quan của vụ trọng cảm ơn quý vị đã chú ý lắng QUẢ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN ĐÒI TIỀNNgày tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2014/TLST-DS ngày về việc đòi tiền theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2014/QĐXXST ngày và quyết định hoãn phiên tòa số 67/2014/QĐ-ST-DS ngày QĐ hoãn phiên toà số 71/2014/QĐST-DS ngày quyết định hoãn phiên toà ngày thông báo mở lại phiên toàn số 08/ Quyết định hoãn phiên tòa số 75/ Thông báo mở lại phiên tòa số 08/ Thông báo mở lại phiên tòa 09/ án sơ thẩm số 08/2015/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2015 về việc “Đòi tiền” cuả Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã tuyên như sauTrích bản ánQUYẾT ĐỊNHCăn cứ Điều 25, Điều 35, Điều 127, Điều 128, Điều 131, Điều 134, Điều 179, Điều 195, Điều 236, Điều 238, Điều 239, Điều 243, Điều 245 Bộ luật tố tụng Dân cứ Điều 4, Điều 280, Điều 281, Điều 282, Điều 283, Điều 285, Điều 286, Điều 302, Điều 305, Điều 424, Điều 59, Điều 416 Bộ luật Dân cứ quyết định 2868-QĐNHNN quy định về mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước Việt Nam có hiệu lực thi hành ngày 01/10/ nhận đơn khởi kiện ngày 11/3/2014 và yêu cầu thay đổi khởi kiện tại phiên tòa ngày 10/9/2015 của ông Lê Đức Dư về việc đòi tiền giữa ông và bà Đỗ Thị bà Đỗ Thị Hương và ông Phạm Hồng Kỳ phải trả cho ông Lê Hoàng và vợ là bà Nguyễn Kim Thúy số tiền gốc là bẩy tỷ đồng và tiền lãi là đồng. Tổng số tiền mà bà Đỗ Thị Hương và ông Phạm Hồng Kỳ phải trả cho ông Lê Hoàng và bà Nguyễn Thị Kim Thúy là Lê Hoàng có trách nhiệm trả lại cho bà Hương, ông Kỳ toàn bộ giấy tờ nhà đất đã nhận khi bà Hương, ông kỳ thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho ông Hoàng, và Thúy gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Thạch Thất cấp ngày 28/5/2010 đứng tên Đỗ Thị Hương, số AH 809672, tại thôn Yên Mỹ-Xã Bình Yên- huyện Thạch Thất- Hà Nội; Hợp đồng góp vốn mua căn hộ E28 B56 khu đô thị mới Mỗ Lao- Hà Đông- Hà Nội giữa bà Đỗ Thị Hương và công ty TNHH Capitaland Hoàng Thành; Phiếu thu tiền mua lô đất Q1- C20 thuộc dự án thung lũng Thanh Xuân- Khu Đại Nải- Vĩnh Phúc đứng tên bà Hương và ông chấp nhận áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 11/3/2014 của ông Lê các yêu cầu khác của đương từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân án phí Bà Đỗ Thị Hương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là Lê Hoàng phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là đồng, được trừ vào số tiền đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 3683 ngày 03/4/2014 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, ông Hoàng được nhận lại số tiền là xử sơ thẩm công khai, có mặt ông Hoàng, bà Thúy và người đại diện hợp pháp của bà Hương, ông Kỳ, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên 4BÀI HỌC KINH NGHIỆM, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤTBÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO BẢN THÂNQua vụ án tôi thu nhận được rất nhiều kinh nghiệm trong việc làm việc với cơ quan có thẩm quyền liên quan tới vụ án Dân sư. Có cách nhìn tổng thể, đánh giá các văn bản, tài liệu, chứng cứ một cách khách quan hơn, có lòng tin hơn vào quan điểm cá nhân sau khi đã nghiên cứu kỹ quy định pháp luật và tiếp xúc gặp gỡ nguyên đơn trong quá trình làm làm lắng nghe mong mỏi của khách hàng, giải thích một cách thấu đáo hợp tình, hợp lý cho khách hàng để họ yên tâm hơn và có niềm tin vào cách xử lý công việc của luật sư; Giúp luật sư chuẩn bị tốt các tài liệu cơ bản cần có trong vụ án, sắp xếp hợp lý khi tham gia các buổi làm việc với các cơ quan có thẩm quyền và đặc biệt tại Tòa được tham dự phiên tòa trực tiếp góp phần để tôi học hỏi kinh nghiệm tranh tụng tại tòa; những biện pháp cần áp dụng trong trường hợp tòa án vi phạm tố tụng; học hỏi những kỹ năng cần thiết trong các thủ tục hỏi, tranh luận trong phiên tòa; giúp tôi nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của luật NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤTĐề nghị cho người tập sự hành nghề luật sư được tham gia nhiều hơn trong hoạt động nghề nghiệp. Căn cứ theo khoản 3 Điều 14 Luật luật sư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 được sửa đổi bổ sung năm 2012 thì người tập sự hành nghề luật sư chỉ được thực hiện theo quy định là “ Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật.”, như vậy người tập sự hành nghề luật sư chỉ được tập sự và học tập trên các tài liệu do luật sư hướng dẫn cung cấp, ngoài ra không được tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp khác rất cần thiết cho quá trình thực tập hành nghề luật sư như gặp bị can, bị cáo, tiếp xúc với đương sự, tham gia tố tụng tại tòa, thực hiện tư vấn pháp luật và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng… So sánh với Pháp lệnh luật sư năm 2001 và Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh luật sư. Tại khoản 2 Điều 5 Chương II của Nghị định số 94/2001/NĐ-CP quy định “Luật sư tập sự được tham gia tố tụng trong các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực theo sự phân công của luật sư hướng dẫn và khi được khách hàng đồng ý. Khi tham gia tố tụng, luật sư tập sự có các quyền và nghĩa vụ của luật sư theo quy định của pháp luật tố tụng và Pháp lệnh luật sự. Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, luật sư tập sự được cùng với luật sư hướng dẫn nghiên cứu hồ sơ, gặp bị can, bị cáo và đương sự khác khi được họ đồng ý. Luật sư tập sự được thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác cho khách hàng theo sự phân công của luật sư hướng dẫn khi được khách hàng đồng ý, nhưng không được ký văn bản tư vấn pháp luật và chịu trách nhiệm về chất lượng công việc mà minh thực hiện trước luật sư hướng dẫn và tổ chức hành nghề luật sư nơi mình tập sự”. Theo quy định của Pháp lệnh luật sư và Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh luật sư, thì luật sư tập sự được tham gia hầu hết các hoạt động nghề nghiệp gần như luật sư chính thức, điều này giúp cho người tập sự được thâm nhập vào thực tế, có nhiều cơ hội để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn của nghề nghiệp, tạo điều kiện cho người tập sự nắm vững chuyên môn hơn, nâng cao trình độ nghiệp vụ và trích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp của mình. Như vậy, so sánh với Pháp lệnh luật sư 2001 đã hết hiệu lực kể từ ngày Luật luật sư có hiệu lực thi thành thì Luật luật sư đã hạn chế rất nhiều quyền tham gia các hoạt động nghề nghiệp của người tập sự hành nghề luật sư, điều này gây nhiều khó khăn cho người tập sự nghề luật sư trong việc gắn kết giữa lý thuyết được đào tạo và thực tiễn công việc, trong việc hoàn thiện chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tay xin trân trọng cảm ơn Hội đồng Giám 5DANH MỤC TÀI LIỆU ĐÍNH KÈMĐơn khởi kiện Các giấy tờ giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn Văn bản trả lời của Nam CườngVăn bản trả lời của Công an Hà Nội Bản án sơ thẩm số 08/2015/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2015 về việc “Đòi tiền” của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Kiện đòi lại tài sản theo quy định của BLDS năm 2015, Kiện đòi lại tài sản là một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo quy ... Nhà em mất 1 bình ác quy 100 ah mua 2 triệu dùng được 3 tháng mua mới. Thời điểm mất 7h30 đến 15 h cùng ngày em tìm thấy trong tiệm phế liệu. Em báo công an xã họ đã xác minh là của lên xin về nhưng họ không trả Vậy đúng hay sai ạ? Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật Toàn quốc. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư như sau Căn cứ pháp lý Bộ luật dân sự 2015 Nội dung tư vấn Kiện đòi lại tài sản theo quy định của BLDS năm 2015 1. Kiện đòi lại tài sản theo quy định của BLDS năm 2015 là gì? Kiện đòi lại tài sản là một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 166 BLDS năm 2015 quy định Điều 166. Quyền đòi lại tài sản “1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu; Người sử dụng tài sản; Người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. 2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó” Quyền sở hữu tài sản là quyền dân sự của chủ sở hữu; được pháp luật bảo hộ. Trong trường hợp tài sản của chủ sở hữu đang do người khác chiếm hữu không dựa trên sự định đoạt ý chí của chủ sở hữu; thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu người đang thực tế chiếm hữu tài sản có nghĩa vụ trả lại tài sản cho mình Kiện đòi lại tài sản là động sản theo quy định của BLDS năm 2015 2. Điều kiện kiện đòi lại tài sản là động sản theo quy định của BLDS năm 2015 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình như sau Điều 167. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp; bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu” Như vậy theo quy định của pháp luật điều kiện để kiện đòi lại tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình như sau – Vật rời khỏi chủ sở hữu không thông qua hình thức là hợp đồng hợp pháp – Người thực tế đang chiếm hữu tài sản; sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật – Chủ sở hữu phải chứng minh được tài sản bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là tài sản của mình – Vật là đối tượng của việc khởi kiện chưa bị xác lập quyền sở hữu không thuộc trường hợp chủ sở hữu không được đòi lại động sản 3. Quyền kiện đòi lại tài sản là động sản theo quy định của BLDS năm 2015 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp; bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. Như vậy. Trong trường hợp của bạn; bạn hoàn toàn có thể yêu cầu bên đang chiếm giữ hoặc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật hoàn trả lại tài sản cho bạn. Trong trường hợp bên đang chiếm giữ hoặc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật bạn có quyền làm đơn khởi kiện để đòi lại tài sản của mình Tuy nhiên. Cả hai trường hợp kể trên bạn phải chứng minh được cho người đang chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật hay Tòa án thấy đây là tài sản của bạn và tài sản đó rời khỏi chủ sở hữu là hoàn toàn trái ý muốn Để được tư vấn chi tiết về Kiện đòi lại tài sản, quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự 24/7 19006500 để được luật sư tư vấn hoặc Gửi câu hỏi về địa chỉ Gmaillienhe Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất. Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./. Liên kết ngoài tham khảo Tư vấn pháp luật đất đai miễn phí 24/7 Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí 24/7
Quy định về quyền đòi lại tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015 so với Bộ luật dân sự năm 2005? Các điều kiện kiện đòi lại tài sản?Pháp luật luôn được coi là công cụ quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý xã hội hay trong việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể đối với tài sản. Vấn đề quyền sở hữu luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà luật học mà còn của toàn người dân trong xã hội. Hiện nay, những quy định chung về quyền sở hữu trong các văn bản pháp luật đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở quan trọng mang tính định hướng cho các quan hệ kinh tế, các quan hệ dân sự trong đời sống. Quyền đòi lại tài sản là một chế định có ý nghĩa to lớn để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Bài viết dưới đây công ty Luật Dương Gia sẽ giúp người đọc tìm hiểu quy định về quyền đòi lại tài sản và các điều kiện kiện đòi lại tài sản trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật sư tư vấn luật qua điện thoại trực tuyến miễn phí 1. Quy định về quyền đòi lại tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015 so với Bộ luật dân sự năm 2005 Theo Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 đã đưa ra quy định về quyền đòi lại tài sản như sau “Điều 166. Quyền đòi lại tài sản 1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. 2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó”. Như vậy, ta có thể hiểu một cách đơn giản theo quy định của pháp luật hiện hành thì quyền đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu cơ quan Tòa án có thẩm quyền buộc các chủ thể là người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Căn cứ theo khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ sở hữu đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, chủ sở hữu sẽ không thể đòi lại tài sản của mình. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền đối với tài sản đó theo quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu nhưng cũng đồng thời bảo vệ các chủ thể có một số quyền đối với tài sản của chủ sở hữu như quyền bề mặt, quyền hưởng dụng hay quyền đối với bất động sản liền kề. Chính bởi vì thế mà chủ sở hữu tài sản không thể đòi lại tài sản trong trường hợp này. Ta nhận thấy, Bộ luật dân sự năm 2015 ra đời đã bỏ đi những điều kiện cụ thể khi cho phép chủ sở hữu đòi lại tài sản từ chủ thể đang có quyền khác trong mọi trường hợp thay vì bị hạn chế như ở luật cũ, điều này đã góp phần bảo đảm quyền và lợi ích của chủ sở hữu của tài sản so với quy định của Bộ luật dân sự 2005. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình – Đối với động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản thì Điều 258 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau “Chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa ” – Tại Bộ luật dân sự năm 2015, quy định này đã được sửa đổi như sau “Điều 168. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này.” Theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu. Vậy, ta nhận thấy, trong Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm quy định đối với trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản từ giao dịch dân sự được coi là vô hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trước pháp luật. Việc một người có được tài sản thông qua việc mua đấu giá hoặc giao dịch với người đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là chủ sở hữu của tài sản là trường hợp mà người ngay tình hoàn toàn không có lỗi họ sẽ được pháp luật bảo vệ bởi vì trước lúc tài sản được đưa đấu giá thì sẽ có một khoảng thời gian để nơi bán đấu giá giới thiệu về sản phẩm hoặc liên tục công khai về tài sản đó; chính vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không thể đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình mà chỉ có thể áp dụng phương thức kiện khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Quy định về chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình. Để đáp ứng nhu cầu trả lại tài sản cho nguyên đơn phụ thuộc căn bản vào tính chất của việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật của bị đơn. Do đó, người ta phân biệt việc chiếm hữu này thành hai dạng Đó là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình. – Theo Điều 189 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định nội dung như sau Các chủ thể là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Và ngược lại được coi là không ngay tình đối với người chiếm hữu tài sản của người khác phải biết hoặc buộc phải biết sự chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật. Có thể thấy việc chiếm hữu tài sản như vậy bao hàm hai yếu tố cụ thể sau đây + Thứ nhất Yếu tố khách quan mọi sự chiếm hữu tài sản mà không phù hợp với quy định của điều 183 Bộ luật dân sự năm 2015 “Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau 1. Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản. 2. Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản. 3. Người được giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật. 4. Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định. 5. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định. 6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định ” Nếu không đáp ứng các điều kiện trên thì đều bị coi là chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật, bất luận người chiếm hữu đó biết hay không biết các quy định trên hay không. Khái niệm này được thắt chặt tại quy định tài khoản 2 Điều 165 của Bộ luật dân sự 2015 khẳng định nội dung sau “Điều 165. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật 1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây a Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; b Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; c Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; d Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan; đ Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan; e Trường hợp khác do pháp luật quy định. 2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. 2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật”. + Thứ hai Yếu tố chủ quan thể hiện ở thái độ, ý thức và mức độ hiểu biết pháp luật của người chiếm hữu tài sản của người khác. Việc phân biệt chiếm hữu thành hai loại như vậy không chỉ làm cơ sở để đáp ứng hay không yêu cầu lấy lại vật của nguyên đơn mà còn để giải quyết các hậu quả liên quan. Điều 166, 167, 168 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã quy định trong việc kiện đòi lại tài sản thì chủ sở hữu được lấy lại tài sản khi có đầy đủ các yếu tố sau đây – Tài sản rời khỏi chủ sở hữu hay rời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ hoặc theo ý chí của họ như người thứ ba có vật thông qua giao dịch không đền bù. – Các chủ thể là đối tương thực tế đang chiếm giữ tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình. – Tài sản hiện đang còn trong tay người chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản đó. – Tài sản không còn là bất động sản hoặc động sản in phải đăng ký quyền trường hợp khác do pháp luật Việt Nam quy định. Việc kiện đòi lại tài sản có những yêu cầu cụ thể như sau – Thứ nhất là về nguyên đơn + Các chủ thể là người kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu của tài sản đó được xác lập theo những căn cứ do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định và chủ sở hữu cũng cần có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với tài sản cũng có thể là người có quyền khác đối với tài sản thông qua những căn cứ xác lập quyền được pháp luật quy định cụ thể. + Các chủ thể là chủ sở hữu cần phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản đang bị bị đơn chiếm giữa bất hợp pháp. Cần lưu ý rằng chủ thể ở đây có thể là bất kì ai, là cá nhân hoặc tổ chức là người có thể chứng được mình có quyền sở hữu hay có quyền khác đối với tài sản đang bị bị đơn chiếm hữu bất hợp pháp theo đúng quy định pháp luật. Các chủ thể là người chiếm hữu không ngay tình và không có căn cứ pháp luật sẽ trả phải lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người có quyền khác đối với tài sản đó. – Thứ hai đối với bị đơn + Các chủ thể là người bị kiện, có thể là người đang thực tế chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và không ngay tình như các tài sản do hành vi trộm cắp, cướp, lừa đảo mà có hay biết tài sản đó là của gian mà vẫn mua, hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh rơi, bỏ quên,… nhưng các chủ thể này lại không giao nộp cho cơ quan chức năng. + Đối với trường hợp người sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người thứ ba thì người thứ ba cũng có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu hoàn trả. Hay nói chung lại khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ thì người đang thực tế chiếm hữu tài sản đó đều phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 581 Bộ luật dân sự năm 2015. + Đối với trường hợp khi bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình mà tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu như thông qua một giao dịch có đền bù và theo ý chí của người chiếm hữu, thì chủ sở hữu sẽ không có quyền đòi lại tài sản người đang thực tế chiếm giữ mà sẽ kiện người mình đã chuyển giao tài sản theo hợp đồng vì đây là trách nhiệm theo hợp đồng đã ký trước đó giữa các bên. + Trong trường hợp khi bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình đối với bất động sản và tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu đòi lại tài sản. Bởi vì đối với những tài sản này người mua chỉ có quyền sở hữu khi sang tên đăng ký chuyển quyền sở hữu từ người chủ sở hữu. + Còn trong trường hợp các chủ thể là người chiếm hữu không ngay tình thông qua giao dịch với người chủ sở hữu theo quyết định của cơ quan tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc mua bán thông qua bán đấu giá thi hành án nhưng sau đó những căn cứ trên không còn thì các chủ thể là người chiếm hữu ngay tình có quyền sở hữu những tài sản mà mình đã mua theo đúng quy định pháp luật hiện hành trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Hệ thống pháp luật Việt Nam xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau 1. Kiện đòi tài sản là gì?Kiện đòi tài sản là một phương thức nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Trong thực tế ngày nay, sự xâm phạm quyền sở hữu diễn ra rất đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy pháp luật đã có quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, cụ thể là tại điều 255 Bộ luật dân sự 2015, theo đó“Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữuChủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật” Ta có thể thấy chủ sở hữu có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu. sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Cũng theo Điều 225, khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu nếu có sự xâm hại, họ có thể;“…yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản” .Hay nói cách khác, kiện đòi tài sản là một phương thức bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, được pháp luật quy định và công hết, ta cần hiểu rõ khái niệm về phương thức bảo vệ quyền sở hữu này Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình, được xem như một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, nhằm đảm bảo để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình 256 Bộ luật Dân sự quy định quyền đòi lại tài sản“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của bộ luật dân sự”…Như vậy chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, bằng nhiều cách thức, có quyền yêu cầu người đang nắm giữ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó trong trường hợp người đó đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật. Tài sản trong trường hợp này, ta có thể hiểu là vật bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là vật đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp, đã rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm giữ hợp pháp mà nằm ngoài ý chí của người vậy, ta có thể xác định đối tượng của kiện đòi tài sản là tài sản đang bị chiếm hữu bất hợp pháp. Tùy từng loại tài sản khác nhau mà có thời hiệu khởi kiện có thể khác nhau theo quy định của pháp luật, đó là thời hạn mà“Chủ thể được quyền khởi kiện hoặc nộp đơn yêu càu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm…” khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự 2015.Hết thời hiệu này, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không có quyền kiện đòi tài sản. Pháp luật dân sự có quy định thời hiệu khởi kiện cho từng trường hợp riêng biệt. Đối với kiện đòi tài sản, điều 256 quy định việc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, trừ trường hợp “ Quy định tại khoản 1 điều 247” – nghĩa là xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu phù hợp với quy định của pháp luật. Khi đã xác lập quyền sở hữu hợp pháp, có nghĩa là người đang chiếm hữu tài sản đã trở thành người sở hữu hợp pháp tài sản đó, và không phải trả lại tài sản nếu chủ sở hữu trước yêu Quy định của pháp luật dân sự về kiện đòi tài sảnTóm tắt câu hỏiKính Thưa Luật sư ! Cho tôi hỏi tôi có người anh ruột. Hiện nay, anh làm ăn thất bại, thiếu nợ nhiều tiền nhiều người, tài sản của anh trai tôi đã thế chấp ngân hàng và cầm cố hết. Ngoài ra, còn nợ mười người trên 1,5 tỷ , chín người kia không có thưa kiện mà nói với anh tôi cứ từ từ làm ăn có dư thì trả, còn một người thì kiện ra tòa án anh tôi nợ gần 300 tôi xin hỏi anh tôi không có khả năng để trả nợ cho người đó, thì anh tôi có bị án hình sự không?. Nếu như thỏa thuận tại tòa anh tôi có trả dần hàng tháng cho người đó và chín người còn lại có được không?. Nhưng hiện tại thu nhập của anh trai tôi khoảng 5 triệu, có hai đứa con nhỏ, đứa 6 tuổi và đứa 8 tuổi, vợ anh thì chỉ ở nhà nội trợ. Chi phí chi tiêu, học hành, gia đình chi tiêu khoảng 4 triệu, còn dư 1 anh tôi có chia ra trả 1 triệu trả cho 10 người đó có được không? Cám ơn Luật sư !Nội dung tư vấnTrường hợp của anh trai bạn do không nói rõ về yếu tố hành vi của anh trai bạn cho nên chúng tôi xin chia thành hai trường hợp đó là trường hợp chỉ kiện dân sự và trường hợp sẽ bị khởi tố trách nhiệm hình Đối với kiện dân sự trong trường hợp chỉ là giao dịch dân sự vay tiền thông thường bằng hình thức hợp đồng vay tài sản. Người vay muốn đòi được nợ quá hạn mà bên vay chưa thanh toán thì sẽ tiến hành gửi đơn khởi kiện đến Tòa án. Như vậy, căn cứ vào đó trong trường hợp của anh trai bạn, nếu anh ấy giao kết hợp đồng với các chủ nợ chỉ theo hợp đồng vay tài sản thông thường thì bên chủ nợ chỉ có thể khởi kiện dân sự, tức kiện đòi tài sản chứ không liên quan đến yếu tố hình sự trong vụ việc này. Ngoài ra, đối với vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý nếu anh trai của bạn có thể thỏa thuận trả tiền hàng tháng với các chủ nợ kia thì Tòa án sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong vụ án dân sự. Bởi vì nguyên tắc của bên dân sự chính sự Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các Việc đòi nợ cũng có thể giải quyết theo con đường hình sự thông qua việc tố giác tội phạm. Tùy từng trường hợp cụ thể nếu có đủ căn cứ xác định tội phạm, người vay tiền có những hành vi đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174, Bộ Luật Hình sự hoặc tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175, Bộ Luật Hình sự bên cơ quan điều tra sẽ chỉ khởi tố vụ án khi đó thuộc trường hợp người vay tiền có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi lạm dụng tín nhiệm để vay tài sản hoặc vay tài sản hoặc vay tài sản sau đó tẩu tán, bỏ trốn…nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng khoản tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có đủ khả năng thanh toán, có tài sản nhưng có tình không trả..Nếu anh trai bạn có những hành vi được quy định là tội phạm theo quy định của Bộ Luật Hình sự thì anh trai bạn có thể bị khởi tố hình sự. Vì đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội nên dù có thỏa thuận thì hành vi vi phạm pháp luật của anh trai bạn vẫn sẽ bị cơ quan điều tra khởi tố theo đúng quy định pháp Quy định của pháp luật về phương pháp kiện đòi tài sảnKiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền buộc người có hành vi vi phạm quyền sở hữu phải trả lại tài sản cho mình. Mục đích của phương thức kiện này là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình . Điều kiện chung để thực hiện phương thức kiện này được quy định cụ thể như sau– Chủ thể yêu cầu nguyên đơn Phải là người chủ sở hữu, chiếm hữu hợp pháp với tài sản đó và phải chứng minh được mình là người sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp khi có yêu cầu.– Người bị kiện bị đơn Phải là người đang chiếm hữu tài sản trên thực tế không có căn cứ pháp luật không ngay tình. Điều này rất quan trọng vì nhiều trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiêm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu tài sản đó đã trở thành chủ sở hữu của tài sản do xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc xác lập quyền sở hữu theo các quy định khác của pháp luật.– Tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp pháp Nếu vì một lý do nào đó khiến tài sản bị hư hỏng, thất lạc, bị tiêu hủy … thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể áp dụng phương thức kiện này.– Không rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định không phải trả lại tài sản được quy định tại các Điều 257, Điều 258 Bộ luật Dân sựBLDS TTheo qui định tại Điều 257 Bộ luật Dân sự thì“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.Theo đó thì chủ sở hữu chỉ đòi lại được tài sản nếu người chiếm hữu ngay tình có được động sản đó thông qua giao dịch không có đền bù với người không có quyền định đoạt đối với tài sản hoặc trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp bị người khác chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu. Như vậy, nếu người ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị mất cắp, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể khởi kiện đòi lại tài quy định tại Điều 258 Bộ luật Dân sự năm 2015“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.Việc một người có tài sản thông qua việc mua bán đấu giá hoặc giao dịch với người đã được Nhà nước có thẩm quyền công nhận là chủ sở hữu của tài sản là trường hợp mà người ngay tình hoàn toàn không có lỗi họ sẽ được pháp luật bảo vệ. Chính vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không thể kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình mà chỉ có thể áp dụng phương thức khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.– Ưu điểm là biện pháp hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các biện pháp dân sự khác. Khi áp dụng sẽ nhanh chóng lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình do được đảm bảo bằng các biện pháp quyền lực nhà nước.– Nhược điểm mất thời gian, chi phí theo kiện. Có ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn. Việc bình thường hóa quan hệ này sau khi áp dụng phương thức kiện thường khó diễn ra hoặc có thì rất lâu Khái quát chung về kiện đòi tài sảnKiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…”.Tuy nhiên, đối với những tài sản được chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai và đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì không áp dụng đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự hoặc các trường hợp quy định tại Điều 257, 258 thì không đòi lại tài sản.Điều kiện chung về kiện đòi tài sản có thể kể đếnThứ nhất, về chủ thể có quyền yêu cầu Là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó như người thuê tài sản, người nhận giữ tài sản … Phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản hay nói cách khác chứng minh được quyền khởi kiện của hai, người bị khởi kiện Phải là người chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản . Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu đó lại trở thành người chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu điều 247, Bộ luật dân sự 2015 hoặc do đã hết quyền hưởng thời hiệu dân sự trong trường hợp nhận được tài sản đánh rơi, phát hiện gia súc, gia cầm thất lạc điều 241,242,243 Bộ luật dân sự năm 2015.Thứ ba, tài sản kiện đòi phải còn tồn tại, nếu vật là đối tượng kiện đòi , không còn tồn tại do bị tiêu hủy, hoặc bị mất thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không thể trả lại chính tài sản đó cho bên kiện đòi. Vì thế, trong trường hợp này phải áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hạiThứ tư, thuộc trường hợp được phép đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nếu pháp luật có quy định. Vì vậy dù đủ 3 điều kiện trên , nhưng không thuộc trường hợp đòi lại tài sản thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền yêu cầu bồi thường thiệt Người khởi kiện trong kiện đòi tài sảnTheo quy định pháp luật thì quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo đó, Điều 256 Bộ luật dân sự 2015 quy định“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình thì phải trả lại tài sản đó”.Theo quy định này thì chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp là người có quyền khởi kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp sở hữu là người có trong tay, người nắm giữ, quản lí tài sản được xác lập theo các căn cứ luật định và có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó. Chủ sở hữu là người có tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình và để xác định một tài sản nào đó có phải là tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định hay không phải dựa trên căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định theo Điều 170 Bộ luật dân sự 2015.Một chủ sở hữu chỉ có quyền sở hữu tài sản nếu tài sản đó được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Tuy nhiên, trên thực tế không phải chủ sở hữu nào cũng có quyền sở hữu đối với một số loại tài sản nhất định, có những tài sản pháp luật quy định chỉ có những chủ thể nhất định mới có quyền sở hữu thì chỉ có những chủ thể này mới có quyền sở hữu tài sản đó và có những loại tài sản thì chủ thể phải đáp ứng những điều kiện nhất định mới được coi là chủ sở hữu thì chủ sở hữu phải tuân thủ theo những điều kiện chiếm hữu hợp pháp là người được chủ sở hữu ủy quyền quản lí tài sản, hoặc là người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu. Chủ thể chỉ có thể kiện đòi tài sản dựa trên cơ sở quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Nghĩa là các chủ thể không có quyền yêu cầu tòa án xét xử để đòi lại những tài sản mà theo quy định của pháp luật chủ thể đó không được quyền xác lập quyền sở khởi kiện là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác như các đương sự khác nhưng việc tham gia của họ mang tính chủ động hơn vì bọn họ chính là người yêu cầu tòa án can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà mình làm người đại diện. Việc khởi kiện của họ là cơ sở phát sinh vụ án dân sự tại tòa án khi xác định tư cách của người khởi kiện cần chú ý không phải lúc nào người có quyền lợi bị xâm phạm nguyên đơn cũng đồng thời là người khởi Nghĩa vụ nộp án phí khi khởi kiện đòi tài sảnTóm tắt câu hỏiXin luật sư tư vấn tôi có cho một đồng nghiệp vay số tiền là 18 triệu đồng từ năm 2014 đến nay đòi nhiều lần không trả. Nay tôi gửi đơn ra tòa về việc đòi lại tiền cho vay vậy tôi có phải nộp án phí không?. trân trọng cảm ơn luật sư!?Nội dung tư vấnTheo Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí như sau“1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí.”Như vậy, bạn với tư cách là bên nguyên đơn thì sẽ phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ khoản 4 Điều 25 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm như sau“Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết”.Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm như sau“1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này.”Như vậy, khi nộp đơn khởi kiện thì bạn có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, sau khi giải quyết tranh chấp, căn cứ vào quyết định của Tòa án để xác định nghĩa vụ nộp tiền án phí của đương sự theo quy định của pháp luật. Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn. Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp. Trân trọng cảm ơn. Thống Pháp Luật Việt nam Lưu ý Nội dung tư vấn của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách hay quy định mới của pháp luật.
Kiện đòi tài sản là gì? Quy định của pháp luật dân sự về kiện đòi tài sản? Quy định của pháp luật về phương pháp kiện đòi tài sản? Khái quát chung về kiện đòi tài sản? Người khởi kiện trong kiện đòi tài sản? Nghĩa vụ nộp án phí khi khởi kiện đòi tài sản?Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài Mục lục bài viết 1 1. Kiện đòi tài sản là gì? 2 2. Quy định của pháp luật dân sự về kiện đòi tài sản 3 3. Quy định của pháp luật về phương pháp kiện đòi tài sản 4 4. Khái quát chung về kiện đòi tài sản 5 5. Người khởi kiện trong kiện đòi tài sản 6 6. Nghĩa vụ nộp án phí khi khởi kiện đòi tài sản Kiện đòi tài sản là một phương thức nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Trong thực tế ngày nay, sự xâm phạm quyền sở hữu diễn ra rất đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy pháp luật đã có quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, cụ thể là tại điều 255 Bộ luật dân sự 2015, theo đó “Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật” Ta có thể thấy chủ sở hữu có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu. sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Cũng theo Điều 225, khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu nếu có sự xâm hại, họ có thể; “…yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản” . Hay nói cách khác, kiện đòi tài sản là một phương thức bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, được pháp luật quy định và công nhận. Trước hết, ta cần hiểu rõ khái niệm về phương thức bảo vệ quyền sở hữu này Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình, được xem như một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, nhằm đảm bảo để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường. Điều 256 Bộ luật Dân sự quy định quyền đòi lại tài sản “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của bộ luật dân sự”… Như vậy chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, bằng nhiều cách thức, có quyền yêu cầu người đang nắm giữ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó trong trường hợp người đó đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật. Tài sản trong trường hợp này, ta có thể hiểu là vật bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là vật đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp, đã rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm giữ hợp pháp mà nằm ngoài ý chí của người này. Như vậy, ta có thể xác định đối tượng của kiện đòi tài sản là tài sản đang bị chiếm hữu bất hợp pháp. Tùy từng loại tài sản khác nhau mà có thời hiệu khởi kiện có thể khác nhau theo quy định của pháp luật, đó là thời hạn mà “Chủ thể được quyền khởi kiện hoặc nộp đơn yêu càu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm…” khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự 2015. Hết thời hiệu này, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không có quyền kiện đòi tài sản. Pháp luật dân sự có quy định thời hiệu khởi kiện cho từng trường hợp riêng biệt. Đối với kiện đòi tài sản, điều 256 quy định việc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, trừ trường hợp “ Quy định tại khoản 1 điều 247” – nghĩa là xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu phù hợp với quy định của pháp luật. Khi đã xác lập quyền sở hữu hợp pháp, có nghĩa là người đang chiếm hữu tài sản đã trở thành người sở hữu hợp pháp tài sản đó, và không phải trả lại tài sản nếu chủ sở hữu trước yêu cầu. 2. Quy định của pháp luật dân sự về kiện đòi tài sản Tóm tắt câu hỏi Kính Thưa Luật sư ! Cho tôi hỏi tôi có người anh ruột. Hiện nay, anh làm ăn thất bại, thiếu nợ nhiều tiền nhiều người, tài sản của anh trai tôi đã thế chấp ngân hàng và cầm cố hết. Ngoài ra, còn nợ mười người trên 1,5 tỷ , chín người kia không có thưa kiện mà nói với anh tôi cứ từ từ làm ăn có dư thì trả, còn một người thì kiện ra tòa án anh tôi nợ gần 300 triệu. Vậy tôi xin hỏi anh tôi không có khả năng để trả nợ cho người đó, thì anh tôi có bị án hình sự không?. Nếu như thỏa thuận tại tòa anh tôi có trả dần hàng tháng cho người đó và chín người còn lại có được không?. Nhưng hiện tại thu nhập của anh trai tôi khoảng 5 triệu, có hai đứa con nhỏ, đứa 6 tuổi và đứa 8 tuổi, vợ anh thì chỉ ở nhà nội trợ. Chi phí chi tiêu, học hành, gia đình chi tiêu khoảng 4 triệu, còn dư 1 anh tôi có chia ra trả 1 triệu trả cho 10 người đó có được không? Cám ơn Luật sư ! Luật sư tư vấn Trường hợp của anh trai bạn do không nói rõ về yếu tố hành vi của anh trai bạn cho nên chúng tôi xin chia thành hai trường hợp đó là trường hợp chỉ kiện dân sự và trường hợp sẽ bị khởi tố trách nhiệm hình sự. _ Đối với kiện dân sự trong trường hợp chỉ là giao dịch dân sự vay tiền thông thường bằng hình thức hợp đồng vay tài sản. Người vay muốn đòi được nợ quá hạn mà bên vay chưa thanh toán thì sẽ tiến hành gửi đơn khởi kiện đến Tòa án. Như vậy, căn cứ vào đó trong trường hợp của anh trai bạn, nếu anh ấy giao kết hợp đồng với các chủ nợ chỉ theo hợp đồng vay tài sản thông thường thì bên chủ nợ chỉ có thể khởi kiện dân sự, tức kiện đòi tài sản chứ không liên quan đến yếu tố hình sự trong vụ việc này. Ngoài ra, đối với vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý nếu anh trai của bạn có thể thỏa thuận trả tiền hàng tháng với các chủ nợ kia thì Tòa án sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong vụ án dân sự. Bởi vì nguyên tắc của bên dân sự chính sự Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. _ Việc đòi nợ cũng có thể giải quyết theo con đường hình sự thông qua việc tố giác tội phạm. Tùy từng trường hợp cụ thể nếu có đủ căn cứ xác định tội phạm, người vay tiền có những hành vi đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174, Bộ Luật Hình sự hoặc tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175, Bộ Luật Hình sự 2015. Và bên cơ quan điều tra sẽ chỉ khởi tố vụ án khi đó thuộc trường hợp người vay tiền có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi lạm dụng tín nhiệm để vay tài sản hoặc vay tài sản hoặc vay tài sản sau đó tẩu tán, bỏ trốn…nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng khoản tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có đủ khả năng thanh toán, có tài sản nhưng có tình không trả.. Nếu anh trai bạn có những hành vi được quy định là tội phạm theo quy định của Bộ Luật Hình sự thì anh trai bạn có thể bị khởi tố hình sự. Vì đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội nên dù có thỏa thuận thì hành vi vi phạm pháp luật của anh trai bạn vẫn sẽ bị cơ quan điều tra khởi tố theo đúng quy định pháp luật. 3. Quy định của pháp luật về phương pháp kiện đòi tài sản Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền buộc người có hành vi vi phạm quyền sở hữu phải trả lại tài sản cho mình. Mục đích của phương thức kiện này là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình . Điều kiện chung để thực hiện phương thức kiện này được quy định cụ thể như sau – Chủ thể yêu cầu nguyên đơn Phải là người chủ sở hữu, chiếm hữu hợp pháp với tài sản đó và phải chứng minh được mình là người sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp khi có yêu cầu. – Người bị kiện bị đơn Phải là người đang chiếm hữu tài sản trên thực tế không có căn cứ pháp luật không ngay tình. Điều này rất quan trọng vì nhiều trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiêm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu tài sản đó đã trở thành chủ sở hữu của tài sản do xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc xác lập quyền sở hữu theo các quy định khác của pháp luật. – Tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp pháp Nếu vì một lý do nào đó khiến tài sản bị hư hỏng, thất lạc, bị tiêu hủy … thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể áp dụng phương thức kiện này. – Không rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định không phải trả lại tài sản được quy định tại các Điều 257, Điều 258 Bộ luật Dân sựBLDS T Theo qui định tại Điều 257 Bộ luật Dân sự thì “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Theo đó thì chủ sở hữu chỉ đòi lại được tài sản nếu người chiếm hữu ngay tình có được động sản đó thông qua giao dịch không có đền bù với người không có quyền định đoạt đối với tài sản hoặc trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp bị người khác chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu. Như vậy, nếu người ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị mất cắp, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể khởi kiện đòi lại tài sản. Theo quy định tại Điều 258 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”. Việc một người có tài sản thông qua việc mua bán đấu giá hoặc giao dịch với người đã được Nhà nước có thẩm quyền công nhận là chủ sở hữu của tài sản là trường hợp mà người ngay tình hoàn toàn không có lỗi họ sẽ được pháp luật bảo vệ. Chính vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không thể kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình mà chỉ có thể áp dụng phương thức khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. – Ưu điểm là biện pháp hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các biện pháp dân sự khác. Khi áp dụng sẽ nhanh chóng lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình do được đảm bảo bằng các biện pháp quyền lực nhà nước. – Nhược điểm mất thời gian, chi phí theo kiện. Có ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn. Việc bình thường hóa quan hệ này sau khi áp dụng phương thức kiện thường khó diễn ra hoặc có thì rất lâu dài. 4. Khái quát chung về kiện đòi tài sản Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…”. Tuy nhiên, đối với những tài sản được chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai và đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì không áp dụng đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự hoặc các trường hợp quy định tại Điều 257, 258 thì không đòi lại tài sản. Điều kiện chung về kiện đòi tài sản có thể kể đến Thứ nhất, về chủ thể có quyền yêu cầu Là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó như người thuê tài sản, người nhận giữ tài sản … Phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản hay nói cách khác chứng minh được quyền khởi kiện của mình. Thứ hai, người bị khởi kiện Phải là người chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản . Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu đó lại trở thành người chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu điều 247, Bộ luật dân sự 2015 hoặc do đã hết quyền hưởng thời hiệu dân sự trong trường hợp nhận được tài sản đánh rơi, phát hiện gia súc, gia cầm thất lạc điều 241,242,243 Bộ luật dân sự năm 2015. Thứ ba, tài sản kiện đòi phải còn tồn tại, nếu vật là đối tượng kiện đòi , không còn tồn tại do bị tiêu hủy, hoặc bị mất thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không thể trả lại chính tài sản đó cho bên kiện đòi. Vì thế, trong trường hợp này phải áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại Thứ tư, thuộc trường hợp được phép đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nếu pháp luật có quy định. Vì vậy dù đủ 3 điều kiện trên , nhưng không thuộc trường hợp đòi lại tài sản thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. 5. Người khởi kiện trong kiện đòi tài sản Theo quy định pháp luật thì quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo đó, Điều 256 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình thì phải trả lại tài sản đó”. Theo quy định này thì chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp là người có quyền khởi kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Chủ sở hữu là người có trong tay, người nắm giữ, quản lí tài sản được xác lập theo các căn cứ luật định và có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó. Chủ sở hữu là người có tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình và để xác định một tài sản nào đó có phải là tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định hay không phải dựa trên căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định theo Điều 170 Bộ luật dân sự 2015. Một chủ sở hữu chỉ có quyền sở hữu tài sản nếu tài sản đó được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Tuy nhiên, trên thực tế không phải chủ sở hữu nào cũng có quyền sở hữu đối với một số loại tài sản nhất định, có những tài sản pháp luật quy định chỉ có những chủ thể nhất định mới có quyền sở hữu thì chỉ có những chủ thể này mới có quyền sở hữu tài sản đó và có những loại tài sản thì chủ thể phải đáp ứng những điều kiện nhất định mới được coi là chủ sở hữu thì chủ sở hữu phải tuân thủ theo những điều kiện đó. Người chiếm hữu hợp pháp là người được chủ sở hữu ủy quyền quản lí tài sản, hoặc là người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu. Chủ thể chỉ có thể kiện đòi tài sản dựa trên cơ sở quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Nghĩa là các chủ thể không có quyền yêu cầu tòa án xét xử để đòi lại những tài sản mà theo quy định của pháp luật chủ thể đó không được quyền xác lập quyền sở hữu. Người khởi kiện là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác như các đương sự khác nhưng việc tham gia của họ mang tính chủ động hơn vì bọn họ chính là người yêu cầu tòa án can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà mình làm người đại diện. Việc khởi kiện của họ là cơ sở phát sinh vụ án dân sự tại tòa án khi xác định tư cách của người khởi kiện cần chú ý không phải lúc nào người có quyền lợi bị xâm phạm nguyên đơn cũng đồng thời là người khởi kiện. 6. Nghĩa vụ nộp án phí khi khởi kiện đòi tài sản Tóm tắt câu hỏi Xin luật sư tư vấn tôi có cho một đồng nghiệp vay số tiền là 18 triệu đồng từ năm 2014 đến nay đòi nhiều lần không trả. Nay tôi gửi đơn ra tòa về việc đòi lại tiền cho vay vậy tôi có phải nộp án phí không?. trân trọng cảm ơn luật sư!? Luật sư tư vấn Theo Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí như sau “1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí. 2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí. Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí.” Như vậy, bạn với tư cách là bên nguyên đơn thì sẽ phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí. Theo khoản 4 Điều 25 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm như sau “Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết”. Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm như sau “1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. 2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. 3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận. 4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận. 5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận. 6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận. 7. Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó. 8. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. 9. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia. 10. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch. 11. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy định. 12. Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó. 13. Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này.” Như vậy, khi nộp đơn khởi kiện thì bạn có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, sau khi giải quyết tranh chấp, căn cứ vào quyết định của Tòa án để xác định nghĩa vụ nộp tiền án phí của đương sự theo quy định của pháp luật.
kiện đòi tài sản